Gia-cơ
Chapter 1

Gia-cơ

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Cornilescu Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Gia-cơ, tôi tớ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus Christ, đạt cho mười hai chi phái ở tan lạc, chúc bình an!
1Иаков, роб ал луй Думнезеу ши ал Домнулуй Исус Христос, кэтре челе доуэспрезече семинций каре сунт ымпрэштияте: Сэнэтате!
2Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn,
2Фраций мей, сэ привиць ка о маре букурие кынд тречець прин фелурите ынчеркэрь,
3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục.
3ка уний каре штиць кэ ынчеркаря крединцей воастре лукрязэ рэбдаре.
4Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào.
4Дар рэбдаря требуе сэ-шь факэ десэвыршит лукраря, пентру ка сэ фиць десэвыршиць, ынтреӂь ши сэ ну дучець липсэ де нимик.
5Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho.
5Дакэ вреунуя динтре вой ый липсеште ынцелепчуня, с-о чарэ де ла Думнезеу, каре дэ тутурор ку мынэ ларгэ ши фэрэ мустраре, ши еа ый ва фи датэ.
6Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó.
6Дар с-о чарэ ку крединцэ, фэрэ сэ се ындояскэ делок, пентру кэ чине се ындоеште сямэнэ ку валул мэрий, тулбурат ши ымпинс де вынт ынкоаче ши ынколо.
7Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa:
7Ун астфел де ом сэ ну се аштепте сэ примяскэ чева де ла Домнул,
8ấy là một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định.
8кэч есте ун ом нехотэрыт ши нестаторник ын тоате кэиле сале.
9Anh em nào ở địa vị thấp hèn hãy khoe mình về phần cao trọng mình,
9Фрателе динтр-о старе де жос сэ се лауде ку ынэлцаря луй.
10kẻ giàu cũng hãy khoe mình về phần đê hèn, vì người sẽ qua đi như hoa cỏ.
10Богатул, димпотривэ, сэ се лауде ку смериря луй, кэч ва трече ка флоаря ербий.
11Mặt trời mọc lên, nắng xẳng, cỏ khô, hoa rụng, sắc đẹp tồi tàn: kẻ giàu cũng sẽ khô héo như vậy trong những việc mình làm.
11Рэсаре соареле ку кэлдура луй арзэтоаре ши усукэ ярба: флоаря ей каде жос, ши фрумусеця ынфэцишэрий ей пере – аша се ва вештежи богатул ын умблетеле луй.
12Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.
12Фериче де чел че рабдэ испита. Кэч, дупэ че а фост гэсит бун, ва прими кунуна веций пе каре а фэгэдуит-о Думнезеу челор че-Л юбеск.
13Chớ có ai đang bị cám dỗ mà nói rằng: Aáy là Đức Chúa Trời cám dỗ tôi; vì Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám dỗ được, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai.
13Нимень, кынд есте испитит, сэ ну зикэ: „Сунт испитит де Думнезеу.” Кэч Думнезеу ну поате фи испитит ка сэ факэ рэу ши Ел Ынсушь ну испитеште пе нимень.
14Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình.
14Чи фиекаре есте испитит, кынд есте атрас де пофта луй ынсушь ши момит.
15Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết.
15Апой пофта, кынд а зэмислит, дэ наштере пэкатулуй; ши пэкатул, одатэ фэптуит, адуче моартя.
16Hỡi anh em yêu dấu, chớ tự dối mình:
16Ну вэ ыншелаць, пряюбиций мей фраць:
17mọi ân điển tốt lành cùng sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống, trong Ngài chẳng có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào.
17орьче ни се дэ бун ши орьче дар десэвыршит есте де сус, коборынду-се де ла Татэл луминилор, ын каре ну есте нич скимбаре, нич умбрэ де мутаре.
18Aáy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng lời chân thật sanh chúng ta, hầu cho chúng ta được nên như trái đầu mùa của những vật Ngài dựng nên.
18Ел, де бунэвоя Луй, не-а нэскут прин Кувынтул адевэрулуй, ка сэ фим ун фел де пыргэ а фэптурилор Луй.
19Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận;
19Штиць бине лукрул ачеста, пряюбиций мей фраць! Орьче ом сэ фие грабник ла аскултаре, ынчет ла ворбире, зэбавник ла мыние,
20vì cơn giận của người ta không làm nên sự công bình của Đức Chúa Trời.
20кэч мыния омулуй ну лукрязэ неприхэниря луй Думнезеу.
21Vậy, hãy bỏ đi mọi điều ô uế, và mọi điều gian ác còn lại, đem lòng nhu mì nhận lấy lời đã trồng trong anh em, là lời cứu được linh hồn của anh em.
21Де ачея лепэдаць орьче некурэцие ши орьче ревэрсаре де рэутате ши примиць ку блындеце Кувынтул сэдит ын вой, каре вэ поате мынтуи суфлетеле.
22Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình.
22Фиць ымплиниторь ай Кувынтулуй, ну нумай аскултэторь, ыншелынду-вэ сингурь.
23Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo, thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương,
23Кэч, дакэ аскултэ чинева Кувынтул ши ну-л ымплинеште ку фапта, сямэнэ ку ун ом каре ышь привеште фаца фиряскэ ынтр-о оглиндэ
24thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào.
24ши, дупэ че с-а привит, плякэ ши уйтэ ындатэ кум ера.
25Nhưng kẻ nào xét kĩ luật pháp trọn vẹn, là luật pháp về sự tự do, lại bền lòng suy gẫm lấy, chẳng phải nghe rồi quên đi, nhưng hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời.
25Дар чине ышь ва адынчи привириле ын леӂя десэвыршитэ, каре есте леӂя слобозенией, ши ва стэруи ын еа, ну ка ун аскултэтор уйтук, чи ка ун ымплинитор ку фапта, ва фи феричит ын лукраря луй.
26Nhược bằng có ai tưởng mình là tin đạo, mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích.
26Дакэ креде чинева кэ есте релиӂиос ши ну-шь ынфрынязэ лимба, чи ышь ыншалэ инима, релиӂия унуй астфел де ом есте задарникэ.
27Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian.
27Релиӂия куратэ ши неынтинатэ ынаинтя луй Думнезеу, Татэл ностру, есте сэ черчетэм пе орфань ши пе вэдуве ын неказуриле лор ши сэ не пэзим неынтинаць де луме.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.