Khải 16
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Bấy giờ, tôi nghe một tiếng lớn từ trong đền thờ ra, phán với bảy vị thiên sứ rằng: Hãy đi, trút bảy bát thạnh nộ của Đức Chúa Trời xuống đất.
1A LOHE aku la au i ka leo nui mai ka luakini mai, e olelo ana i na anela ehiku, O hele oukou, a e ninini aku i na hue ehiku o ko ke Akua inaina maluna iho o ka honua.
2Vị thiên sứ thứ nhất đi trút bát mình xuống đất, thì trở nên ghẻ chốc dữ và đau trên những người có dấu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó.
2Hele aku la ka mua, ninini aku la i kona hue maluna iho o ka honua; a puu mai la ka hehe, inoino pono ole maluna o ka poe kanaka i loaa ka hoailona o ka holoholona, a i hoomana aku i kona kii.
3Vị thiên sứ thứ hai, trút bát mình xuống biển, thì biển biến ra huyết, như huyết người chết; phàm sanh vật ở trong biển đều chết hết.
3A ninini aku la ka anela alua i kona hue iloko o ke kai; a lilo iho la ia i mea e like me ko koko o ke kanaka make; a make no na mea ola a pau maloko o ke kai.
4Vì thiên sứ thứ ba trút bát mình xuống các sông cùng các suối nước, thì nước biến ra huyết.
4A ninini aku la ka anela ekolu i kona hue ma na muliwai a me na punawai; a lilo lakou i koko.
5Tôi nghe thiên sứ của nước nói rằng: Hỡi Đấng Hiện Có, Đã Có, tức là Đấng Thánh, Ngài là công bình, vì Ngài đã phán xét thể nầy;
5A lohe aku au i ka anela o na wai, i ka i ana mai, Pono no oe, e ka Haku, e ka mea e noho la, a me ka mea mua, ka mea hemolele, no ka mea, ua hoopai oe i keia mau mea.
6bởi vì chúng nó đã làm đổ huyết của các thánh đồ cùng của các đấng tiên tri, và Ngài đã cho chúng nó uống huyết: thật là đáng lắm.
6No ka mea, ua hookahe lakou i ke koko o ka poe haipule, a me ka poe kaula, a na haawi aku oe i ke koko na lakou e inu, ua ku pono no ia ia lakou.
7Tôi lại nghe bàn thờ nói rằng: Phải, lạy Chúa, là Đức Chúa Trời toàn năng, những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình.
7A lohe aku la au i kekahi ma ke kuahu, e i mai ana, Oia no, e ka Haku ke Akua mana loa, he oiaio a he pololei kou hoopai ana.
8Vị thiên sứ thứ tư trút bát mình trên mặt trời, thì mặt trời được quyền lấy lửa làm sém loài người.
8Ninini aku la ka anela eha i kona hue maluna iho o ka la; a ua haawiia mai nana e hoowela i kanaka i ka ahi.
9Loài người bị lửa rất nóng làm sém, chúng nó nói phạm đến danh Đức Chúa Trời là Đấng có quyền trên các tai nạn ấy, và chúng nó cũng không ăn năn để dâng vinh hiển cho Ngài.
9A wela iho la na kanaka i ka wela nui, a kuamuamu aku la i ka inoa o ke Akua, ka mea nona ka mana maluna o keia mau ino: aole hoi i mihi lakou e hoonani ai ia ia.
10Vị thiên sứ thứ năm trút bát mình trên ngôi con thú, nước của nó bèn trở nên tối tăm, người ta đều cắn lưỡi vì đau đớn.
10Ninini aku la ka anela elima i kona hue maluna o ka nohoalii o ka holoholona; a pouli iho la kona aupuni, a nahu iho la lakou i ko lakou elelo no ka eha nui,
11Chúng nó nói phạm đến Đức Chúa Trời trên trời vì cớ đau đớn và ghẻ chốc mình, và cũng không ăn năn công việc mình.
11A kuamuamu aku la i ke Akua o ka lani no na eha o lakou a no na mai hehe, aole hoi i mihi i ka lakou huna ana.
12Vị thiên sứ thứ sáu trút bát mình xuống sông cái Ơ-phơ-rát; sông liền cạn khô, đặng sửa soạn cho các vua từ Đông phương đến có lối đi được.
12Ninini aku la ka anela eono i kona hue maluna o ka muliwai nui o Euperate; a maloo iho la kona wai, i hoomakaukauia ke ala no na'lii ma ka hikina a ka la.
13Tôi thấy từ miệng rồng, miệng thú, miệng tiên tri giả có ba tà thần ra, giống như ếch nhái.
13A ike aku la au i na uhane haukae ekolu e like me na rana, mailoko mai o ka waha o ka deragona, a me ka waha o ka holoholona, a me ka waha o ke kaula wahahee.
14Đó là những thần của ma quỉ, làm phép lạ và đi đến các vua trên khắp thế gian, để nhóm hiệp về sự chiến tranh trong ngày lớn của Đức Chúa Trời toàn năng.
14He poe uhane daimonio keia, e hana ana i na mea kupanaha, e hele ana hoi i na'lii o ka honua nei a pau, e hoakoakoa ia lakou i ke kaua o kela la nui o ke Akua mana loa.
15Kìa, ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình!
15Aia hoi, e hele mai au me he aihue la. Pomaikai ka mea makaala, a malama hoi i kona aahu, i ole ia e hele kapa ole, a ike mai lakou i kona hilahila.
16Chúng nhóm các vua lại một chỗ, theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn.
16A hoakoakoa iho la oia ia lakou i kahi i kapaia, ma ka olelo Hebera, o Aremagedona.
17Vị thiên sứ thứ bảy trút bát mình trong không khí, thì có tiếng lớn trong đền thờ vang ra, từ ngôi đến mà phán rằng: Xong rồi!
17Ninini aku la ka anela ehiku i kona hue ma ka lewa; a puka mai la ka leo nui mailoko mai o ka luakini o ka lani, mai ka nohoalii mai, i mai la, Ua pau.
18Liền có chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang và động đất dữ dội, động đất lớn lắm đến nỗi từ khi có loài người trên đất chưa hề có như vậy.
18Alaila anapu mai la na uila, a he mau leo hoi, a me na hekili; a he olai nui kekahi, aole hoi he olai nui me ka ikaika e like me neia, mai ka wa mai o ka noho ana o kanaka ma ka honua nei.
19Thành phố lớn bị chia ra làm ba phần, còn các thành của các dân ngoại đều đổ xuống, và Đức Chúa Trời nhớ đến Ba-by-lôn lớn đặng cho nó uống chén rượu thạnh nộ Ngài.
19A maheleia ae la ke kulanakauhale nui, a lilo i ekolu, a haule iho la na kulanakauhale o na lahuikanaka; a hoomanao iho ke Akua ia Babulona nui i haawi ia ia i ke kiaha o ka waina o ka ikaika o kona inaina.
20Mọi đảo đều ẩn trốn, các núi chẳng còn thấy nữa.
20Holo aku la na mokupuni a pau, aole hoi i ike hou ia na kuahiwi.
21Những cục mưa đá lớn, nặng bằng một ta-lâng, ở trên trời rớt xuống trên loài người; loài người bèn nói phạm đến Đức Chúa Trời bởi cớ tai nạn mưa đá ấy, vì là một tai nạn gớm ghê.
21Haule iho la, mai ka lani mai iluna o kanaka, ka huahekili nui e like me na taleua; a kuamuamu aku la na kanaka i ke Akua no ka ino o ka huahekili; no ka mea, he ino nui loa ia.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.