Khải
Chapter 3
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao: Ta biết công việc ngươi; ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết.
1Sardi ah kaom van kami kricaabu khaeah hae tiah tarik ah; Sithaw Muithla sarihto hoi cakaeh sarihto katawn Anih mah hae loknawk hae thuih; na sak ih toknawk to ka panoek; nang loe ahmin amthanghaih hoiah na hing, toe na duek.
2Hãy tỉnh thức, và làm cho vững sự còn lại, là sự hầu chết; vì ta không thấy công việc của ngươi là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta.
2Angthawk ah loe kadueh tom, kanghmat hmuennawk to thacaksak ah, Sithaw hmaa ah kakoep tok na sakhaih to ka hnu ai.
3Vậy hãy nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thể nào, thì giữ lấy, và ăn năn đi. Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình.
3To pongah na talawk moe, na thaih ih hmuen to pahnet hmah; kacakah patawnh loe, dawnpakhuem ah. Nang lawt ai nahaeloe, kamqu baktiah nang khaeah kang zoh han, natuek naah maw kang zoh han, tito na panoek mak ai.
4Nhưng, ở Sạt-đe, ngươi còn có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình: những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng ta, vì họ xứng đáng như vậy.
4Nangcae Sardis kricaabu thungah angmacae ih kahni amhnongsak ai kami zetta oh o vop; nihcae loe kahni kanglung angkhuk han krak pongah, kai hoi nawnto caeh o tih.
5Kẻ nào thắng, sẽ được mặc áo trắng như vậy. Ta sẽ không xóa tên người khỏi sách sự sống và sẽ nhận danh người trước mặt Cha ta, cùng trước mặt các thiên sứ Ngài.
5Pazawk kami loe kahni kanglung to angkhuk tih; hinghaih cabu thung hoiah anih ih ahmin to ka phrae mak ai; toe kam Pa hoi Angmah ih vankaminawk hmaa ah anih ih ahmin to ka taphong pae han.
6Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
6Naa tawn kami loe, Muithla mah kricaabunawk khaeah thuih ih lok to tahngai nasoe.
7Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Phi-la-đen-phi rằng: Nầy là lời phán của Đấng thánh, chân thật, là Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được:
7Philadelphia ah kaom vankami kricaabu khaeah hae tiah tarik ah; Kaciim kami, katoeng kami, David ih cabi sin kami, Anih mah paongh naah, mi mah doeh khaa thai ai; Anih mah khah naah, mi mah doeh paong thai ai kami mah, hae loknawk hae thuih;
8Ta biết công việc ngươi; nầy, ta đã mở trước mặt ngươi một cái cửa không ai đóng được; vì ngươi có ít năng lực, mà đã giữ đạo ta, và chẳng chối danh ta.
8na sak ih toknawk to ka panoek: khenah, mi mah doeh khah thaih han ai ah, na hmaa ah kamong khongkha to kang suek pae: tha na cak ai, toe Ka lok hae na pakuem moe, Ka hmin hae na pahnawt sut ai.
9Nầy, ta ban cho ngươi mấy kẻ trong những kẻ thuộc về hội quỉ Sa-tan, chúng nó xưng mình là người Giu-đa, mà k” thực không phải, nhưng chúng nó nói dối; nầy, ta sẽ khiến chúng nó đến sấp mình xuống dưới chân ngươi, và sẽ cho chúng nó biết rằng ta đã yêu ngươi.
9Khenah, Judah kami ai to mah Judah kami ah angsahcop, lok amlai kaminawk to Seneko ah kaom Setan ah ka sak han. Khenah, nihcae to nangcae khaeah kang zohsak moe, nangcae khokkung ah cangkrawn hoiah ka boksak han; to naah ni nangcae kang palung, tito nihcae mah panoek o tih.
10Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục ta, ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất.
10Ka paek ih lok to palungsawkhaih hoiah na pakuem pongah, long ah kaom kaminawk to tanoek hanah, long pum ah kaom hankoi patangkhanghaih atue thungah nang to kang pakaa toeng han.
11Ta đến mau kíp; hãy giữ lấy điều ngươi có, hầu cho không ai cất lấy mão triều thiên của ngươi.
11Khenah, kang zoh palang han: mi mah doeh na angraeng lumuek lomh thai han ai ah, na tawn ih hmuen to kacakah patawn ah.
12Kẻ nào thắng, ta sẽ cho làm trụ trong đền Đức Chúa Trời ta, và người sẽ không ra khỏi đó nữa; ta lại sẽ lấy danh Đức Chúa Trời ta, danh của thành Đức Chúa Trời ta, là Giê-ru-sa-lem mới từ trên trời, bởi Đức Chúa Trời ta mà xuống, cùng danh mới ta, mà viết trên người.
12Pazawk kami loe ka Sithaw ih tempul homh ah ka sak han, anih loe tasa bang tacawt mak ai boeh: a nuiah Ka Sithaw ih ahmin, Ka Sithaw khae hoi van hoiah angzo tathuk, Jerusalem kangtha, Ka Sithaw ih vangpui ahmin to Ka tarik han: kangtha kaimah ih ahmin to anih nuiah Ka tarik han.
13Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
13Naa tawn kami loe, Muithla mah kricaabunawk khaeah thuih ih lok to tahngai nasoe.
14Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Lao-đi-xê rằng: Nầy là lời phán của Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật, Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời:
14Laodicia ah kaom van kami kricaabu khaeah hae tiah tarik ah; oep kathok, Loktang hnukung, Sithaw hmuen sak Amtonghaih, Amen, tiah kaom Anih mah hae loknawk hae thuih;
15Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay!
15na sak ih toknawk to ka panoek, nang loe kangqai doeh na ai, kabae doeh na ai: kangqai ah maw, to tih ai boeh loe kabae ah maw na oh han ka koehhaih oh.
16Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta.
16Nang loe kangqai doeh na ai, kabae doeh na ai, kabae um ah na oh pongah, ka pakha thung hoi kang pathak ving han.
17Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ.
17Kai loe angraeng moe, hmuenmae ka tawnh mang boeh pongah, tidoeh ka ngai ai boeh, tiah na thuih: nang loe khosak bing kami, tahmen thok kami, amtang kami, mikmaeng, bangkrai ah kaom kami ah ni na oh, tito na panoek ai:
18Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được.
18nang raeng thai hanah, kai khae ih hmai hoi atui pacii tangcae sui kaciim to qan ah; azat kaom bangkrai ah na ohhaih to padap hanah, kahni kanglung to qan ah; na mik amtueng hanah mik tasi to angnok ah, tiah poekhaih kang paek.
19Phàm những kẻ ta yêu thì ta quở trách sửa phạt; vậy hãy có lòng sốt sắng, và ăn năn đi.
19Palung ih kaminawk to ka zoeh moe, ka thuitaek: to pongah poek het ah loe, dawnpakhuem ah.
20Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta.
20Khenah, thok taengah kang doet moe, ka takhuek: mi kawbaktih doeh ka lok to thaih moe, thok to paong nahaeloe, anih ohhaih thungah ka kun moe, anih hoi nawnto buh ka caak han, anih doeh kai hoi nawnto caa toeng tih.
21Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài.
21Kai loe pazawkkung ah ka oh boeh, Angmah ih angraeng tangkhang nuiah Kam Pa hoi nawnto kang hnut hoi baktih toengah, pazawk kami loe Kaimah ih angraeng tangkhang pongah Kai hoi nawnto anghnut thaihaih ka paek han.
22Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
22Naa tawn kami loe Muithla mah kricaabunawk khaeah thuih ih lok to tahngai nasoe.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.