Khải
Chapter 12
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đoạn, trên trời hiện ra một dấu lớn: một người đàn bà có mặt trời bao bọc, dưới chân có mặt trăng, và trên đầu có mão triều thiên bằng mười hai ngôi sao.
1Paroeai kalen angmathaih to van ah oh, nongpata maeto loe ni to angkhuk moe, khrah to khok hoiah cawh, a lu nuiah cakaeh hatlai hnetto kaom angraeng lumuek to angmuek.
2người có thai, và kêu la vì nhọc nhằn và đau đẻ.
2To nongpata loe zokpomh moe, nawkta tapen tom boeh pongah, kana aham.
3Trên trời cũng hiện ra một dấu khác nữa: là một con rồng lớn sắc đỏ, có bảy đầu, mười sừng, và trên đầu có bảy mão triều thiên.
3To naah kalah angmathaih maeto van ah oh; lu sarihto hoi takii hato kaom, kalen parai kathim pahui pui maeto ka hnuk, a lu nuiah angraeng lumuek sarihto angmuek.
4Đuôi kéo một phần ba các ngôi sao trên trời, đem quăng xuống đất; con rồng ấy chực trước người đàn bà gần đẻ, hầu cho khi đẻ ra thì nuốt con người đi.
4Anih ih tamaai mah van ih cakaeh ahmuen thumto thungah ahmuen maeto zaeh moe, long ah vah tathuk: nawkta tapen naah paaeh roep hanah, pahui pui loe nawkta tapen tom nongpata hmaa ah angdoet.
5người sanh một con trai, con trai ấy sẽ dùng gậy sắt mà cai trị mọi dân tộc; đứa trẻ ấy được tiếp lên tới Đức Chúa Trời, và nơi ngôi Ngài.
5Sumboeng hoiah prae to uk boih hanah nongpata mah ca nongpa maeto sak: nongpata ih capa loe Sithaw hoi Angmah ih angraeng tangkhang ohhaih ahmuen ah lak pae ving.
6Còn người đàn bà, thì trốn vào đồng vắng, tại đó người đã có một nơi ở mà Đức Chúa Trời đã sửa soạn cho, để nuôi mình trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.
6To nongpata loe Sithaw mah anih han sak pae ih praezaek ahmuen ah cawnh, toah nongpata to ni sang hatlai hnet, quitarukto thung khenzawn ah om tih.
7Bấy giờ có một cuộc chiến đấu trên trời: Mi-chen và các sứ người tranh chiến cùng con rồng, rồng cũng cùng các sứ mình tranh chiến lại;
7To naah van ah misa angkahhaih to oh: Mikael hoi angmah ih van kaminawk mah pahui pui to tuk o; pahui pui hoi anih ih vankaminawk mah doeh tuk o toeng,
8song chúng nó không thắng, và chẳng còn thấy nơi chúng nó ở trên trời nữa.
8toe pahui pui mah tuk payawk ai pongah, nihcae loe van ah ohhaih ahmuen tawn o ai boeh.
9Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó.
9Longpum aling Taqawk, tiah kawk ih Setan, canghnii ih pahui, pahui pui to long ah vah tathuk: anih to angmah ih vankaminawk hoi nawnto long ah vah tathuk.
10Tôi lại nghe trên trời có tiếng lớn rằng: Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, và nước Đức Chúa Trời chúng ta đã đến cùng quyền phép của Đấng Christ Ngài nữa; vì kẻ kiện cáo anh em chúng ta, kẻ ngày đêm kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, nay đã bị quăng xuống rồi.
10To naah van ah, Pahlonghaih hoi thacakhaih, aicae Sithaw mah siangpahrang ah uk ih prae hoi Angmah ih Kri thacakhaih loe vaihiah phak boeh: aicae nawkamyanawk zaehaih netkung, aicae Sithaw hmaa ah nihcae aqum athun zaehaih netkung loe vah tathuk ving boeh, tiah thuih ih kalen parai lok to ka thaih.
11Chúng đã thắng nó bởi huyết Chiên Con và bởi lời làm chứng của mình; chúng chẳng tiếc sự sống mình cho đến chết.
11Nihcae mah Setan to Tuuca ih athii hoi a taphong o ih lok hoiah pazawk o boeh; nihcae loe duek han khoek to hinghaih paawt o ai.
12Bởi vậy, hỡi các từng trời và các đấng ở đó, hãy vui mừng đi! Khốn nạn cho đất và biển! vì ma quỉ biết thì giờ mình còn chẳng bao nhiêu, nên giận hoảng mà đến cùng các ngươi.
12To pongah nangcae vannawk hoi a thungah kaom kaminawk boih anghoe oh. Toe long ah kaom kaminawk hoi tuipui loe khosak bing! Tipongah tih nahaeloe Taqawk loe nangcae khaeah angzoh tathuk boeh, anih mah kai loe atue setta ni ka tawn boeh, tiah panoek pongah palungphui parai.
13Khi rồng thấy mình bị quăng xuống đất, bèn đuổi theo người đàn bà đã sanh con trai.
13Long ah vah tathuk boeh, tiah pahui pui mah panoek naah, ca nongpa tapen nongpata to pacaekthlaek.
14Nhưng người được ban cho một cặp cánh chim phụng hoàng, đặng bay về nơi đồng vắng là chỗ ẩn náu của mình; ở đó được nuôi một thì, các thì, và nửa thì, lánh xa mặt con rắn.
14Toe nongpata loe pahui khae hoiah loih moe, atue maeto thung, atuenawk thung, atue ahap thung khetzawn pacoengah, a ohhaih ahmuen praezaek ah azawk hanah, kalen parai tahmu ih pakhraeh hnetto paek o.
15Bấy giờ con rắn phun nước ở miệng mình ra như sống theo sau người đàn bà, hầu cho kéo người xuống sông.
15Nongpata to tui mah pazawk ving hanah, pahui mah angmah ih pakha thung hoiah vapui baktiah kalong tui to nongpata khaeah pathak.
16Nhưng đất tiếp cứu người đàn bà, vì đất hả miệng nuốt sông mà con rồng đã phun ra từ miệng nó.
16Toe long mah nongpata to abomh, long loe pakha aangh moe, pahui pui mah pakha thung hoi pathak ih vapui baktih kalong tui to paaeh king.
17Con rồng giận người đàn bà bèn đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ vẫn giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jêsus. (12-18) Con rồng đứng trên bãi cát của biển.
17To naah pahui pui loe nongpata nuiah paroeai palungphui, to pongah Sithaw mah paek ih lok hoi Jesu Kri ih lok kacakah patawn nongpata ih caanawk to misatuk hanah a caeh.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.