Khải
Chapter 10
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đoạn, tôi lại thấy một vị thiên sứ khác sức mạnh lắm, ở từ trời xuống, có đám mây bao bọc lấy. Trên đầu người có mống; mặt người giống như mặt trời và chân như trụ lửa.
1To pacoengah van hoi anghum tathuk, tamai angkhuk, thacak kalah van kami to ka hnuk: anih ih lu nuiah loe khungzae to oh, a krang loe ni baktiah oh moe, a khok loe hmai kamngaeh homh baktiah oh:
2Người cầm nơi tay một quyền sách nhỏ mở ra: người để chân hữu mình trên biển, chân tả mình trên đất,
2Anih loe kamong cabu tetta to ban ah sinh: a bantang khok to tuipui nuiah koeng moe, bangqoi khok to saoeng nuiah koeng,
3và kêu lên một tiếng lớn, như tiếng sư tử rống: khi kêu tiếng đó rồi thì bảy tiếng sấm rền lên.
3Anih loe kahang kaipui baktiah kalen parai lok hoiah hangh: anih hang pacoengah khopazih tuen vai sarihto tuenh.
4Lại khi bảy tiếng sấm rền lên rồi, tôi có ý chép lấy, nhưng tôi nghe một tiếng ở từ trời đến phán rằng: Hãy đóng ấn, những điều bảy tiếng sấm đã nói, và đừng chép làm chi.
4Khopazih tuen vai sarihto tuenh pacoengah, a thuih ih lok to ca ah tarik hanah kam sak: toe kai khaeah, Vai sarihto katuen khopazih tuen mah thuih ih lok to tarik hmah, catui to daeng ah, tiah van hoiah thuih ih lok to ka thaih.
5Bấy giờ vị thiên sứ mà tôi đã thấy đứng trên biển và trên đất, giơ tay hữu lên trời,
5To naah tuipui hoi long nuiah angdoe vankami to ka hnuk, anih loe van ah ban payangh tahang moe,
6chỉ Đấng hằng sống đời đời, là Đấng đã dựng nên trời cùng muôn vật trên trời, dựng nên đất cùng muôn vật dưới đất, dựng nên biển cùng muôn vật trong biển, mà thề rằng không còn có thì giờ nào nữa;
6atue akra mak ai boeh, tiah dungzan hoi dungzan ah kahing, van hoi a thungah kaom hmuennawk boih sahkung, long hoi a thungah kaom hmuennawk boih sahkung, tuipui hoi a thungah kaom hmuennawk boih sahkung, Anih ih ahmin hoiah lokkamhaih to a sak:
7nhưng đến ngày mà vị thiên sứ thứ bảy cho nghe tiếng mình và thổi loa, thì sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn, như Ngài đã phán cùng các tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri.
7toe Anih mah a tamna tahmaanawk khaeah thuih ih lok baktih toengah, sarihto haih vankami mah angmah ih mongkah ueng na niah, kathuk Sithaw atimhaih akoep tih.
8Tiếng mà tôi đã nghe đến từ trời, lại nói cùng tôi và bảo rằng: Hãy đi, lấy quyển sách nhỏ mở ra trong tay vị thiên sứ đang đứng trên biển và đất.
8To pacoengah van bang hoiah kai khaeah, Caeh ah loe, tuipui hoi long nuiah kangdoe van kami ban ih kamong cabu tetta to la ah, tiah thuih ih lok to ka thaih let bae.
9Vậy, tôi đi tới vị thiên sứ và xin người cho tôi quyển sách nhỏ. Người phán: Ngươi hãy lấy và nuốt đi; nó sẽ đắng trong bụng ngươi, nhưng trong miệng ngươi nó sẽ ngọt như mật.
9To pongah vankami khaeah ka caeh moe, anih khaeah, Cabu tetta to na paek ah, tiah ka naa. To naah anih mah kai khaeah, La ah loe caa ah; na zok thungah khaa tih, toe na pakha ah loe khoitui baktiah luep tih, tiah ang naa.
10Tôi lấy quyển sách nhỏ khỏi tay vị thiên sứ và nuốt đi; trong miệng tôi nó ngọt như mật, nhưng khi tôi nuốt rồi, thì đắng ở trong bụng.
10Van kami ban ih cabu tetta to ka lak moe, ka caak; ka pakha ah loe khoitui baktiah luep: toe ka caak pacoeng ka zok thungah phak naah loe khaa.
11Có lời phán cùng tôi rằng: Ngươi còn phải nói tiên tri về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng và nhiều vua nữa.
11To naah anih mah kai khaeah, Kanoih parai kaminawk, prae kaminawk, lok congca apae kaminawk hoi siangpahrangnawk khaeah lok na taphong let tih, tiah ang naa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.