Khải
Chapter 20
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ trên trời xuống, tay cầm chìa khóa vực sâu và một cái xiềng lớn.
1Boeng thai ai kathuk akhaw cabi hoi a ban ah kalen parai sumqui kasin, van hoi angzo tathuk vankami maeto ka hnuk.
2Người bắt con rồng, tức là con rắn đời xưa, là ma quỉ, là Sa-tan, mà xiềng nó lại đến ngàn năm.
2Anih mah pahui pui, pahui mitong, Setan to naeh moe, saning sangto thung thongim pakhrak,
3Người quăng nó xuống vực, đóng cửa vực và niêm phong lại, hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa, cho đến chừng nào hạn một ngàn năm đã mãn. Sự đó đoạn, Sa-tan cũng phải được thả ra trong ít lâu.
3saning sangto akoep ai karoek to prae kaminawk aling han ai ah, anih to boeng kanghmang longkhaw thungah vah tathuk, thok khah thuih moe, a nuiah catui to a daengh. Toe to tiah oh pacoengah anih to nawnetta thung prawt let tih.
4Tôi lại thấy những ngai, và những người ngồi trên ngai được quyền xét đoán. Kế đó, tôi thấy linh hồn những kẻ đã phải chết chém vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus và vì lời Đức Chúa Trời, linh hồn những kẻ chẳng thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, chẳng nhận dấu hiệu nó, hoặc trên trán hoặc trên tay. Các người ấy được sống và trị vì với Đấng Christ trong một ngàn năm.
4Angraeng tangkhangnawk to ka hnuk, angraeng tangkhang nuiah kanghnu kaminawk hanah lokcaekhaih to paek o: moi kasan hoi anih ih krang bok ai kami, lu hoi ban ah anih ih catui kangdaeng ai, Jesu ih tamthanglok taphong moe, Sithaw ih lok taphong pongah, tahnong apet kaminawk ih muithlanawk to ka hnuk; nihcae loe Kri hoi nawnto saning sangto thung uk o.
5Còn những kẻ chết khác chẳng được sống cho đến khi đủ một ngàn năm. Aáy là sự sống lại thứ nhất.
5Toe kalah kadueh kaminawk loe, saning sangto akoep ai karoek to hing o let ai. Hae loe hmaloe koek angthawkhaih ah oh.
6Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhất! Sự chết thứ nhì không có quyền gì trên những người ấy; song những người ấy sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ, cùng sẽ trị vì với Ngài trong một ngàn năm.
6Hmaloe koek angthawkhaih ah kaom kami loe tahamhoih, ciimcai kami ah oh: vai hnetto duekhaih mah nihcae to pazawk mak ai, nihcae loe Sithaw hoi Kri ih qaima ah om o tih, nihcae loe Anih hoi nawnto saning sangto thung uk o tih.
7Khi hạn ngàn năm mãn rồi, quỉ Sa-tan sẽ được thả,
7Saning sangto boeng pacoengah loe, Setan to thongim thung hoi prawt let tih,
8và nó ra khỏi ngục mình đặng dỗ dành dân ở bốn phương trên đất, dân Gót và dân Ma-gót; nó nhóm chúng lại để chiến tranh, đông như cát bờ biển.
8anih loe long takii palito ah kaom acaeng kaminawk aling hanah caeh tih, Gog hoi Magog misa angtuk hanah nihcae to nawnto pakhueng tih: nihcae loe tuipui ih savuet zetto pop o.
9Chúng nó lên khắp các vùng rộng trên mặt đất, vây dinh thánh đồ và thành yêu dấu. Nhưng có lửa từ trên trời rơi xuống thiêu diệt chúng nó.
9Nihcae loe long boeng khoek to caeh o moe, kaciim kaminawk ohhaih ahmuen hoi palung koi kaom vangpui to takui o: to naah Sithaw khae ih hmai van hoiah krak tathuk moe, nihcae to kangh boih.
10Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời.
10To pacoengah nihcae aling taqawk to moi kasan hoi kamro tahmaanawk vahhaih, kaat hmai hoiah kangbaeh hmai tuili thungah vah, to ahmuen ah anih to khoving khodai dungzan hoi dungzan khoek to pacaekthlaek tih.
11Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đang ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa.
11Kalen pui Angraeng tangkhang kanglung hoi a nuiah kanghnu kami to ka hnuk, long hoi van loe Anih hmaa hoiah cawnh hoi ving, toe nihnik cawnh han ih ahmuen to om ai.
12Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.
12Sithaw hmaa ah kangdoe kathoeng kalen kadueh kaminawk to ka hnuk; cabunawk to paongh o, hinghaih cabu, tiah kaom, kalah cabu doeh paongh o: cabu thungah tarik ih angmacae toksakhaih baktih toengah kadueh kaminawk to lokcaek.
13Biển đem trả những người chết mình chứa; Sự chết và Aâm phủ cũng đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm.
13Tuipui mah anih thungah kaom kadueh kaminawk to paek; duekhaih hoi hell mah doeh angmah hnik thungah kaom kadueh kaminawk to paek hoi toeng: a sak o ih hmuennawk baktih toengah nihcae to lokcaek.
14Đoạn, Sự Chết và Aâm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.
14To pacoengah duekhaih hoi hell to hmai tuili thungah vah. Hae loe vai hnetto duekhaih ah oh.
15Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.
15Hinghaih cabu thungah ahmin kangrik ai kami boih hmai tuili thungah vah.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.