Gióp 33
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Nhưng vậy, hỡi Gióp, xin hãy nghe diễn thuyết tôi. Khá lắng tai nghe các lời nói tôi.
1Toe Job, ka lok hae tahngai ah; ka thuih ih loknawk boih hae tahngai ah.
2Kìa, tôi đã mở miệng ra, Lưỡi tôi nói trong họng tôi.
2Khenah, vaihi pakha ka angh moe, ka palai mah lokthuih.
3Các lời tôi nói sẽ chiếu theo sự chánh trực của lòng tôi; Điều tôi biết lưỡi tôi sẽ nói cách thành thực.
3Ka loknawk loe ka poek toenghaih hoiah ni angzoh; ka palai mah kahoih palunghahaih lok to thuih.
4Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn năng ban cho tôi sự sống.
4Sithaw ih Muithla mah ni kai hae sak moe, Thacak Angraeng ih takhi mah hinghaih ang paek.
5Nếu đáp được, hãy đáp lại cho tôi, Hãy đứng dậy, bày ra lời của ông tại trước mặt tôi!
5Na pathim thaih nahaeloe na patim ah, amsakcoek ah loe ka hmaa ah angdoe ah.
6Hãy xem, đối cùng Đức Chúa Trời tôi với ông có khác chi, Tôi cũng bởi đất bùn mà ra.
6Khenah, Sithaw hmaa ah kai doeh nang baktiah ni ka oh, kai doeh long hoiah ni sak toeng.
7Sự oai nghi tôi nào sẽ làm cho ông kinh khiếp, Và quyền thế tôi sẽ chẳng đè ép ông.
7Khenah, na zit han koi kai khaeah tidoeh om ai; na nuiah kazit ban to ka koeng mak ai.
8Quả ông có nói đến tai tôi, Tôi đã nghe tiếng lời của ông nói rằng:
8Na thuih ih lok to ka thaih, na thuih ih loknawk to ka thaih boeh,
9Tôi trong sạch, không có vi phạm; Tôi vô tội, và trong lòng tôi chẳng có gian ác gì.
9kai loe ka ciim, zae sakhaih ka tawn ai; sakpazaehaih doeh ka tawn ai.
10Dầu vậy, Đức Chúa Trời tìm dịp đối địch tôi, Cầm tôi như kẻ thù nghịch Ngài;
10Khenah, Sithaw mah ka zaehaih pakrong; kai hae a misa ah ang suek,
11Ngài riết chân tôi vào cùm, Và coi chừng đường lối tôi.
11ka khok hae thlong ang thuk pae moe, ka caehhaih loklamnawk boih ang pakaa, tiah na thuih.
12Nầy, tôi muốn đáp với ông rằng trong các lời ấy ông nói vô lý; Vì Đức Chúa Trời là lớn hơn loài người.
12Khenah, na thuih pazae boeh; lok kang pathim han vop, Sithaw loe kami pongah len kue.
13Nhân sao ông tranh luận với Ngài? Ngài không bày giãi điều nào Ngài làm.
13Anih mah ka sak ih hmuen kawng pongah lok pathim ai, tiah na thuih moe, Sithaw to na laisaep thuih loe?
14Vì Đức Chúa Trời phán một lần, Hoặc hai lần; nhưng người ta không để ý đến.
14Sithaw mah lok vaito thuih pacoengah, kalah loklam bang hoiah lok a thuih pae let, toe kami mah panoek pae thai ai.
15Ngài phán trong chiêm bao, trong dị tượng ban đêm, Lúc người ta ngủ mê, Nằm ngủ trên giường mình;
15Kami loe iih angam moe, iihhaih ahmuen ah a iih, qum amang ah hnuksakhaih mah,
16Bấy giờ Ngài mở lỗ tai loài người, Niêm phong lời giáo huấn mà Ngài dạy cho họ,
16a naa thungah lok to thuih pae moe, thuitaekhaih lok to paek,
17Hầu cho loài nguời khỏi điều họ toan làm, Và giấu họ tánh kiêu ngạo,
17kami mah sak atimhaih to pahnawt moe, amoekhaih tawn han ai ah a sak.
18Cứu linh hồn họ khỏi cái huyệt, Và mạng sống khỏi bị gươm giết,
18Anih hinghaih to tangqom thung hoiah Sithaw mah pahlong moe, sumsen hoi duek han ai ah pakaa pae.
19Loài người nằm trên giường mình bị đau đớn sửa phạt, Và xương cốt người hàng tranh chạm nhau mãi mãi,
19Anih loe iihhaih ahmuen ah angsong hanah nathaih hoiah kami to thuitaek moe, ahuhnawk boih to natsak;
20Miệng người bèn lấy làm gớm ghiếc vật thực, Và linh hồn người ghét những đồ ăn mĩ vị.
20To naah a hinghaih mah buh to panuet moe, palung mah buhcaak angnaa pae ai.
21Thịt người bị tiêu hao không còn thấy nữa, Và xương người, mà trước chẳng thấy được, bèn bị lộ ra.
21Anih loe zaek kaeng boeh moe, kamtueng vai ai ahuhnawk doeh, amtueng boih.
22Linh hồn người đến gần cái hầm, Và sự sống người xích lại kẻ giết.
22Ue, a hinghaih mah taprong to pangh tathuk, a hinghaih amrosakkungnawk khaeah phak tom boeh.
23Nếu trong một ngàn thiên sứ, có một thiên sứ làm kẻ truyền-giải cho người, Để chỉ dạy người biết điều ngay thẳng cho người,
23Toe kaminawk khaeah toenghaih loklam to patuek hanah, van kami sangto thungah, maeto mah Sithaw hoi kami salakah laicaeh ah om nahaeloe,
24Aét Đức Chúa Trời làm ơn cho người và phán rằng: “Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống cái hầm; Ta đã tìm đặng giá cứu chuộc rồi”
24Sithaw mah anih to tahmen ah loe, Tangqom thung caeh han ai ah anih to pahlong ah; anih akranghaih to ka hnuk boeh, tiah thui tih.
25Người sẽ được thẳng da mát thịt như buổi thơ ấu; Người trở lại ngày đang thì.
25To naah anih ih ngan loe nawkta ngan baktiah angcoeng let ueloe, thendoeng nathuem ih baktih toengah om let tih.
26Người cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời bèn đoái thương người, Khiến người vui mừng xem thấy mặt Ngài, Và Ngài trả lại sự công bình cho người.
26Anih mah Sithaw khaeah lawkthui ueloe, mikhmai hoihaih to hnu tih; anghoehaih hoi Sithaw ih mikhmai to hnu tih; Sithaw mah a toenghaih to kami hanah paek.
27Đoạn, người đó sẽ hát trước mặt loài người, mà rằng: “Tôi đã phạm tội, làm hư hoại sự ngay thẳng, Song chẳng có ích gì cho tôi.
27Anih mah kaminawk hmaa ah, Mi kawbaktih mah doeh ka zae moeng boeh, toenghaih to toeng ai ah ka sak moeng boeh, to hmuen mah kai han avanghaih tidoeh na paek ai, tiah thui nahaeloe,
28Đức Chúa Trời có giải cứu linh hồn tôi khỏi sa xuống hầm, Và sự sống tôi sẽ thấy ánh sáng.”
28Anih mah tangqom thung hoiah a hinghaih to akrang ueloe, a hinghaih mah aanghaih to hnu tih.
29Kìa, các việc ấy Đức Chúa Trời làm cho loài người; Đến hai lần, hoặc ba lần,
29Khenah, Sithaw mah hae hmuennawk hae kami khaeah sak toepsoep;
30Đặng khiến linh hồn người trở lại khỏi cái hầm, Hầu cho người được ánh sáng kẻ sống chiếu vào cho.
30anih hinghaih to tangqom thung hoiah amlaemsak let moe, hinghaih paek aanghaih thungah a caeh haih.
31Hỡi Gióp, hãy chăm chỉ nghe tôi; Khá làm thinh, thì tôi sẽ nói.
31Aw Job, naa to patuengah loe, ka lok hae acoehaih hoiah tahngai ah; anghngai duem ah; lok kang thuih han vop.
32Nếu ông có điều gì muốn nói, hãy đáp lại tôi; Khá nói, vì tôi muốn xưng ông là công bình.
32Lokthuih na koeh nahaeloe, na pathim ah; toenghaih hnuksak han ka koeh pongah, lok na thui ah.
33Bằng chẳng, hãy nghe tôi; Hãy làm thinh, thì tôi sẽ dạy cho ông sự khôn ngoan.
33Toe lokthuih han na tawn ai nahaeloe, ka lok hae tahngai ah; anghngai duem ah, palunghahaih kang patuk han, tiah a naa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.