Gióp 33
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
JPS Tanakh (Jewish Publication Society, 1917)
1Nhưng vậy, hỡi Gióp, xin hãy nghe diễn thuyết tôi. Khá lắng tai nghe các lời nói tôi.
1Howbeit, Job, I pray thee, hear my speech, and hearken to all my words.
2Kìa, tôi đã mở miệng ra, Lưỡi tôi nói trong họng tôi.
2Behold now, I have opened my mouth, my tongue hath spoken in my mouth.
3Các lời tôi nói sẽ chiếu theo sự chánh trực của lòng tôi; Điều tôi biết lưỡi tôi sẽ nói cách thành thực.
3My words shall utter the uprightness of my heart; and that which my lips know they shall speak sincerely.
4Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn năng ban cho tôi sự sống.
4The spirit of God hath made me, and the breath of the Almighty given me life.
5Nếu đáp được, hãy đáp lại cho tôi, Hãy đứng dậy, bày ra lời của ông tại trước mặt tôi!
5If thou canst, answer thou me, set thy words in order before me, stand forth.
6Hãy xem, đối cùng Đức Chúa Trời tôi với ông có khác chi, Tôi cũng bởi đất bùn mà ra.
6Behold, I am toward God even as thou art; I also am formed out of the clay.
7Sự oai nghi tôi nào sẽ làm cho ông kinh khiếp, Và quyền thế tôi sẽ chẳng đè ép ông.
7Behold, my terror shall not make thee afraid, neither shall my pressure be heavy upon thee.
8Quả ông có nói đến tai tôi, Tôi đã nghe tiếng lời của ông nói rằng:
8Surely thou hast spoken in my hearing, and I have heard the voice of thy words;
9Tôi trong sạch, không có vi phạm; Tôi vô tội, và trong lòng tôi chẳng có gian ác gì.
9'I am clean, without transgression, I am innocent, neither is there iniquity in me;
10Dầu vậy, Đức Chúa Trời tìm dịp đối địch tôi, Cầm tôi như kẻ thù nghịch Ngài;
10Behold, He findeth occasions against me, He counteth me for His enemy;
11Ngài riết chân tôi vào cùm, Và coi chừng đường lối tôi.
11He putteth my feet in the stocks, He marketh all my paths.'
12Nầy, tôi muốn đáp với ông rằng trong các lời ấy ông nói vô lý; Vì Đức Chúa Trời là lớn hơn loài người.
12Behold, I answer thee: In this thou art not right, that God is too great for man;
13Nhân sao ông tranh luận với Ngài? Ngài không bày giãi điều nào Ngài làm.
13Why hast thou striven against Him? seeing that He will not answer any of his words.
14Vì Đức Chúa Trời phán một lần, Hoặc hai lần; nhưng người ta không để ý đến.
14For God speaketh in one way, yea in two, though man perceiveth it not.
15Ngài phán trong chiêm bao, trong dị tượng ban đêm, Lúc người ta ngủ mê, Nằm ngủ trên giường mình;
15In a dream, in a vision of the night, when deep sleep falleth upon men, in slumberings upon the bed;
16Bấy giờ Ngài mở lỗ tai loài người, Niêm phong lời giáo huấn mà Ngài dạy cho họ,
16Then He openeth the ears of men, and by their chastisement sealeth the decree,
17Hầu cho loài nguời khỏi điều họ toan làm, Và giấu họ tánh kiêu ngạo,
17That men may put away their purpose, and that He may hide pride from man;
18Cứu linh hồn họ khỏi cái huyệt, Và mạng sống khỏi bị gươm giết,
18That He may keep back his soul from the pit, and his life from perishing by the sword.
19Loài người nằm trên giường mình bị đau đớn sửa phạt, Và xương cốt người hàng tranh chạm nhau mãi mãi,
19He is chastened also with pain upon his bed, and all his bones grow stiff;
20Miệng người bèn lấy làm gớm ghiếc vật thực, Và linh hồn người ghét những đồ ăn mĩ vị.
20So that his life maketh him to abhor bread, and his soul dainty food.
21Thịt người bị tiêu hao không còn thấy nữa, Và xương người, mà trước chẳng thấy được, bèn bị lộ ra.
21His flesh is consumed away, that it cannot be seen; and his bones corrode to unsightliness.
22Linh hồn người đến gần cái hầm, Và sự sống người xích lại kẻ giết.
22Yea, his soul draweth near unto the pit, and his life to the destroyers.
23Nếu trong một ngàn thiên sứ, có một thiên sứ làm kẻ truyền-giải cho người, Để chỉ dạy người biết điều ngay thẳng cho người,
23If there be for him an angel, an intercessor, one among a thousand, to vouch for a man's uprightness;
24Aét Đức Chúa Trời làm ơn cho người và phán rằng: “Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống cái hầm; Ta đã tìm đặng giá cứu chuộc rồi”
24Then He is gracious unto him, and saith: 'Deliver him from going down to the pit, I have found a ransom.'
25Người sẽ được thẳng da mát thịt như buổi thơ ấu; Người trở lại ngày đang thì.
25His flesh is tenderer than a child's; he returneth to the days of his youth;
26Người cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời bèn đoái thương người, Khiến người vui mừng xem thấy mặt Ngài, Và Ngài trả lại sự công bình cho người.
26He prayeth unto God, and He is favourable unto him; so that he seeth His face with joy; and He restoreth unto man his righteousness.
27Đoạn, người đó sẽ hát trước mặt loài người, mà rằng: “Tôi đã phạm tội, làm hư hoại sự ngay thẳng, Song chẳng có ích gì cho tôi.
27He cometh before men, and saith: 'I have sinned, and perverted that which was right, and it profited me not.'
28Đức Chúa Trời có giải cứu linh hồn tôi khỏi sa xuống hầm, Và sự sống tôi sẽ thấy ánh sáng.”
28So He redeemeth his soul from going into the pit, and his life beholdeth the light.
29Kìa, các việc ấy Đức Chúa Trời làm cho loài người; Đến hai lần, hoặc ba lần,
29Lo, all these things doth God work, twice, yea thrice, with a man,
30Đặng khiến linh hồn người trở lại khỏi cái hầm, Hầu cho người được ánh sáng kẻ sống chiếu vào cho.
30To bring back his soul from the pit, that he may be enlightened with the light of the living.
31Hỡi Gióp, hãy chăm chỉ nghe tôi; Khá làm thinh, thì tôi sẽ nói.
31Mark well, O Job, hearken unto me; hold thy peace, and I will speak.
32Nếu ông có điều gì muốn nói, hãy đáp lại tôi; Khá nói, vì tôi muốn xưng ông là công bình.
32If thou hast any thing to say, answer me; speak, for I desire to justify thee.
33Bằng chẳng, hãy nghe tôi; Hãy làm thinh, thì tôi sẽ dạy cho ông sự khôn ngoan.
33If not, hearken thou unto me; hold thy peace, and I will teach thee wisdom.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.