Gióp
Chapter 9
Vietnamese Bible (1923 t…
vs JPS Tanakh (Jewish…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
JPS Tanakh (Jewish Publication Society, 1917)
1Gióp đáp lời lại mà rằng:
1Then Job answered and said:
2Quả thật, tôi biết ấy là như vậy; Nhưng làm thế nào cho loài người được công bình trước mặt Đức Chúa Trời?
2Of a truth I know that it is so; and how can man be just with God?
3Nếu muốn tranh biện với Ngài. Thì một lần trong ngàn lần, loài người không thế đáp lời.
3If one should desire to contend with Him, he could not answer Him one of a thousand.
4Đức Chúa Trời có lòng trí huệ và rất mạnh sức: Ai cứng cỏi với Ngài mà lại được may mắn?
4He is wise in heart, and mighty in strength; who hath hardened himself against Him, and prospered?
5Ngài dời các núi đi, Đánh đổ nó trong cơn giận Ngài; nhưng núi chẳng biết đến.
5Who removeth the mountains, and they know it not, when He overturneth them in His anger.
6Ngài khiến đất rúng động khỏi nền nó, Và các trụ nó đều chuyển lay;
6Who shaketh the earth out of her place, and the pillars thereof tremble.
7Ngài dạy biểu mặt trời, nó bèn chẳng mọc, Ngài đóng ấn trên các ngôi sao;
7Who commandeth the sun, and it riseth not; and sealeth up the stars.
8Một mình Ngài trải các từng trời ra, Và bước đi trên các ngọn sóng biển;
8Who alone stretcheth out the heavens, and treadeth upon the waves of the sea.
9Ngài dựng nên sao bắc đẩu, Sao cày, và Sao rua, Cùng những lầu các bí mật của phương nam.
9Who maketh the Bear, Orion, and the Pleiades, and the chambers of the south.
10Ngài làm những việc lớn lao, không sao dò xét được, Những dấu kỳ chẳng xiết cho được.
10Who doeth great things past finding out; yea, marvellous things without number.
11Kìa, Ngài đã đi qua gần tôi, mà tôi không thấy Ngài, Ngài sang ngang trước mặt tôi, nhưng tôi chẳng nhìn thấy Ngài.
11Lo, He goeth by me, and I see Him not. He passeth on also, but I perceive Him not.
12Kìa, Ngài vớ lấy mồi, ai ngăn trở Ngài được? Ai sẽ nói với Ngài rằng: Chúa làm chi vậy?
12Behold, He snatcheth away, who can hinder Him? Who will say unto Him: 'What doest Thou?'
13Đức Chúa Trời không hồi cơn giận Ngài; Những kẻ giúp đỡ Ra-háp đều cúi mình xuống dưới Ngài.
13God will not withdraw His anger; the helpers of Rahab did stoop under Him.
14Phương chi tôi đáp lại với Ngài, Và chọn lời tranh biện cùng Ngài!
14How much less shall I answer Him, and choose out my arguments with Him?
15Dầu khi tôi công bình, tôi cũng không dám đối lại cùng Ngài; Nhưng tôi cầu xin ơn của Đấng phán xét tôi.
15Whom, though I were righteous, yet would I not answer; I would make supplication to Him that contendeth with me.
16Mặc dầu tôi kêu cầu, và Ngài đáp lời tôi, Tôi cũng không tin rằng Ngài lắng tai nghe tiếng tôi.
16If I had called, and He had answered me; yet would I not believe that He would hearken unto my voice —
17Vì Ngài chà nát tôi trong cơn gió bão, Và thêm nhiều vít tích cho tôi vô cớ.
17He that would break me with a tempest, and multiply my wounds without cause;
18Ngài không để cho tôi hả hơi; Nhưng Ngài khiến tôi no đầy sự đắng cay,
18That would not suffer me to take my breath, but fill me with bitterness.
19Nếu luận về sức lực, kìa, Ngài vốn quyền năng! Nếu nói về lý đoán, thì Ngài rằng: “Ai dám cáo kiện ta?”
19If it be a matter of strength, lo, He is mighty! and if of justice, who will appoint me a time?
20Dẫu rằng tôi công bình, miệng mình sẽ lên án cho mình; Tuy tôi trọn vẹn, nó sẽ tỏ tôi ra gian tà.
20Though I be righteous, mine own mouth shall condemn me; though I be innocent, He shall prove me perverse.
21Dẫu tôi vô tội, tôi không kể đến mình tôi, Tôi khinh bỉ mạng sống tôi.
21I am innocent — I regard not myself, I despise my life.
22Aùc và thiện thảy đều như nhau; bởi cớ ấy, nên tôi có nói: Ngài tiêu diệt người trọn vẹn cũng như kẻ gian ác.
22It is all one — therefore I say: He destroyeth the innocent and the wicked.
23Nếu tai họa giết chết thình lình, Thì Ngài chê cười sự thử thách của người vô tội.
23If the scourge slay suddenly, He will mock at the calamity of the guiltless.
24Đất bị phó vào tay kẻ gian ác; Nó che mặt những quan xét của đất; Nếu chẳng phải nó, vậy thì ai?
24The earth is given into the hand of the wicked; he covereth the faces of the judges thereof; if it be not He, who then is it?
25Các ngày của tôi mau hơn kẻ trạm; Nó trốn không thấy điều phước hạnh.
25Now my days are swifter than a runner; they flee away, they see no good.
26Nó xớt qua mau như thuyền nan, Như chim ưng xông vào mồi.
26They are passed away as the swift ships; as the vulture that swoopeth on the prey.
27Nếu tôi nói: Tôi sẽ quên sự than phiền tôi, Bỏ bộ mặt buồn thảm tôi và lấy làm vui mừng,
27If I say: 'I will forget my complaint, I will put off my sad countenance, and be of good cheer',
28Thì tôi sợ hãi các điều đau đớn tôi, Biết rằng Ngài không cầm tôi là vô tội.
28I am afraid of all my pains, I know that Thou wilt not hold me guiltless.
29Phải, tôi sẽ bị định tội; Nên cớ sao tôi làm cho mình mệt nhọc luống công?
29I shall be condemned; why then do I labour in vain?
30Nếu tôi tắm trong nước tuyết, Rửa tay tôi với nước tro,
30If I wash myself with snow water, and make my hands never so clean;
31Thì Ngài lại nhận tôi trong hầm, Đến đỗi quần áo tôi sẽ gớm ghê tôi.
31Yet wilt Thou plunge me in the ditch, and mine own clothes shall abhor me.
32Vì Đức Chúa Trời chẳng phải loài người như tôi, mà tôi dám đối với Ngài, Để chúng ta cùng đi chịu phán xét.
32For He is not a man, as I am, that I should answer Him, that we should come together in judgment.
33Chẳng có người nào phân xử giữa chúng ta, Đặt tay mình trên hai chúng ta.
33There is no arbiter betwixt us, that might lay his hand upon us both.
34Ước gì Chúa rút roi Ngài khỏi tôi, Khiến sự kinh khiếp của Ngài chớ làm rối loạn tôi nữa;
34Let Him take His rod away from me, and let not His terror make me afraid;
35Bấy giờ, tôi sẽ nói, chẳng sợ Ngài; Nhưng tôi chẳng được như vậy.
35Then would I speak, and not fear Him; for I am not so with myself.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.