Châm 1
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
JPS Tanakh (Jewish Publication Society, 1917)
1Châm ngôn của Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, Vua Y-sơ-ra-ên:
1THE PROVERBS of Solomon the son of David, king of Israel;
2Đặng khiến cho người ta hiểu biết sự khôn ngoan và điều khuyên dạy, Cùng phân biệt các lời thông sáng;
2To know wisdom and instruction; to comprehend the words of understanding;
3Để nhận lãnh điều dạy dỗ theo sự khôn ngoan, Sự công bình, lý đoán, và sự chánh trực;
3To receive the discipline of wisdom, justice, and right, and equity;
4Hầu cho người ngu dốt được sự khôn khéo, Gã trai trẻ được sự tri thức và sự dẽ dặt.
4To give prudence to the simple, to the young man knowledge and discretion;
5Kẻ khôn sẽ nghe và thêm lên sự học vấn, Người thông sáng sẽ được rộng mưu trí,
5That the wise man may hear, and increase in learning, and the man of understanding may attain unto wise counsels;
6Để hiểu biết châm ngôn, thí dụ, Và lời của người khôn ngoan, cùng câu đố nhiệm của họ.
6To understand a proverb, and a figure; the words of the wise, and their dark sayings.
7Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri thức; Còn kẻ ngu muội khinh bỉ sự khôn ngoan và lời khuyên dạy.
7The fear of the LORD is the beginning of knowledge; but the foolish despise wisdom and discipline.
8Hỡi con, hãy nghe lời khuyên dạy của cha, Chớ bỏ phép tắc của mẹ con;
8Hear, my son, the instruction of thy father, and forsake not the teaching of thy mother;
9Vì ấy sẽ như một dây hoa trên đầu con, Giống như những vòng đeo quanh cổ của con.
9For they shall be a chaplet of grace unto thy head, and chains about thy neck.
10Hỡi con, nếu kẻ tội nhân kiếm thế quyến dụ con, Chớ khứng theo.
10My son, if sinners entice thee, consent thou not.
11Nếu chúng nó nói: “Hãy đến cùng chúng ta, phục rình làm đổ huyết người, Núp đợi hại vô cớ kẻ chẳng tội;
11If they say: 'Come with us, let us lie in wait for blood, let us lurk for the innocent without cause;
12Chúng ta sẽ nuốt sống chúng nó như âm phủ, Và còn nguyên vẹn như kẻ xuống mồ mả;
12Let us swallow them up alive as the grave, and whole, as those that go down into the pit;
13Chúng ta sẽ được các thứ của báu, Chất đầy nhà chúng ta những của cướp;
13We shall find all precious substance, we shall fill our houses with spoil;
14Hãy lấy phần ngươi với chúng ta, Chúng ta cả thảy sẽ có một túi bạc mà thôi.”
14Cast in thy lot among us; let us all have one purse' —
15Hỡi con, đừng đi đường cùng chúng nó; Hãy cấm giữ chân con, chớ vào lối của họ;
15My son, walk not thou in the way with them, restrain thy foot from their path;
16Vì chân chúng nó chạy đến sự ác, Lật đật làm đổ huyết ra.
16For their feet run to evil, and they make haste to shed blood.
17Vì giăng lưới ra trước mặt các loài có cánh Lấy làm luống công thay;
17For in vain the net is spread in the eyes of any bird;
18Chính những người ấy thật phục mưu làm đổ huyết mình ra, Và núp rình hại mạng sống mình.
18And these lie in wait for their own blood, they lurk for their own lives.
19Đó là đường của những kẻ tham lợi bất nghĩa; Lợi như thể đoạt lấy mạng sống của kẻ được nó.
19So are the ways of every one that is greedy of gain; it taketh away the life of the owners thereof.
20Sự khôn ngoan hô lên ngoài đường, Cất tiếng dội ra nơi phố chợ;
20Wisdom crieth aloud in the streets, she uttereth her voice in the broad places;
21Khôn ngoan kêu la ở đầu đường dộn dực ồn ào; Tại cửa thành, và nội trong thành người phán lời mình ra,
21She calleth at the head of the noisy streets, at the entrances of the gates, in the city, she uttereth her words:
22Mà rằng: Hỡi kẻ ngu dốt, các ngươi sẽ mến sự ngu dại cho đến bao giờ? Kẻ nhạo báng sẽ ưa sự nhạo báng, Và kẻ dại dột sẽ ghét sự tri thức cho đến chừng nào?
22'How long, ye thoughtless, will ye love thoughtlessness? And how long will scorners delight them in scorning, and fools hate knowledge?
23Nhân vì ta trách các ngươi, các ngươi khá trở lại; Kìa, ta sẽ đổ thần linh ta trên các ngươi; Ta sẽ làm cho các ngươi biết những lời của ta.
23Turn you at my reproof; behold, I will pour out my spirit unto you, I will make known my words unto you.
24Bởi vì ta kêu gọi, mà các ngươi không khứng nghe, Ta giơ tay ta ra, lại chẳng có ai chủ ý;
24Because I have called, and ye refused, I have stretched out my hand, and no man attended,
25Nhưng các ngươi đã bỏ hết lời khuyên dạy ta, Không chịu lời quở trách ta;
25But ye have set at nought all my counsel, and would none of my reproof;
26Nên trong lúc các ngươi bị tai nạn, ta cũng sẽ chê cười, Khi sự sợ hãi giáng cho các ngươi, ắt ta sẽ nhạo báng;
26I also, in your calamity, will laugh, I will mock when your dread cometh;
27Khi sự sợ hãi các ngươi xảy đến thình lình như gió bão, Tai nạn xông vào các ngươi như cơn trốt, Và sự ngặt nghèo, khốn cực giáng trên các ngươi.
27When your dread cometh as a storm, and your calamity cometh on as a whirlwind; when trouble and distress come upon you.
28Bấy giờ chúng nó sẽ kêu cầu cùng ta, nhưng ta sẽ không đáp lời; Sáng sớm chúng nó sẽ tìm ta, nhưng không gặp được.
28Then will they call me, but I will not answer, they will seek me earnestly, but they shall not find me.
29Aáy bởi vì chúng nó ghét sự hiểu biết, Không chọn lấy sự kính sợ Đức Giê-hô-va,
29For that they hated knowledge, and did not choose the fear of the LORD;
30Cũng không muốn theo sự khuyên dạy ta, Và chê bai các lời quở trách ta;
30They would none of my counsel, they despised all my reproof.
31Vì vậy chúng nó sẽ ăn bông trái của đường lối mình, Và được no nê mưu chước của riêng mình.
31Therefore shall they eat of the fruit of their own way, and be filled with their own devices.
32Vì sự bội nghịch của kẻ ngu dốt sẽ giết chúng nó, Và sự yên ổn của kẻ dại dột sẽ làm hại cho chúng nó.
32For the waywardness of the thoughtless shall slay them, and the confidence of fools shall destroy them.
33Nhưng ai khứng nghe ta ắt sẽ ở an nhiên vô sự, Được bình tịnh, không sợ tai họa nào.
33But whoso hearkeneth unto me shall dwell securely, and shall be quiet without fear of evil.'
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.