Châm 8
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
JPS Tanakh (Jewish Publication Society, 1917)
1Sự khôn ngoan há chẳng kêu lên sao? Sự thông sáng há không vang tiếng mình ra ư?
1Doth not wisdom call, and understanding put forth her voice?
2Sự khôn ngoan đứng trên chót các nơi cao, Ngoài đường, tại các ngã tư.
2In the top of high places by the way, where the paths meet, she standeth;
3Gần bên cửa thành, tại nơi vào thành, ỳ chỗ đông trong cửa thành, sự khôn ngoan la lên rằng:
3Beside the gates, at the entry of the city, at the coming in at the doors, she crieth aloud:
4Hỡi loài người, ta kêu gọi các ngươi, Và tiếng ta hướng về con cái loài người!
4'Unto you, O men, I call, and my voice is to the sons of men.
5Hỡi kẻ ngu muội, hãy hiểu sự khôn khéo; Hỡi kẻ dại dột, lòng ngươi khá nên thông sáng.
5O ye thoughtless, understand prudence, and, ye fools, be ye of an understanding heart.
6Hãy nghe, vì ta sẽ nói điều tốt lành, Ta hở môi ra mà dạy điều ngay thẳng.
6Hear, for I will speak excellent things, and the opening of my lips shall be right things.
7Vì miệng ta sẽ nói chân thật; Còn môi ta ghét sự gian ác.
7For my mouth shall utter truth, and wickedness is an abomination to my lips.
8Các lời miệng ta điều xưng hiệp sự công bình. Trong nó chẳng có điều chi cong vạy hoặc gian tà.
8All the words of my mouth are in righteousness, there is nothing perverse or crooked in them.
9Thảy đều rõ ràng cho người nào hiểu biết, Và ngay thẳng cho người nào tìm được sự tri thức.
9They are all plain to him that understandeth, and right to them that find knowledge.
10Khá nhận sự khuyên dạy ta, chớ lãnh tiền bạc, Thà lãnh sự tri thức hơn là vàng chọn lựa;
10Receive my instruction, and not silver, and knowledge rather than choice gold.
11Vì sự khôn ngoan có giá hơn châu ngọc, Và các vật mình ưa thích hơn hết chẳng sánh bằng nó đặng.
11For wisdom is better than rubies, and all things desirable are not to be compared unto her.
12Ta, là sự khôn ngoan, đồng ở với sự thông minh, Và tìm được sự hiểu biết, và sự dẽ dặt.
12I wisdom dwell with prudence, and find out knowledge of devices.
13Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác; Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác, và miệng gian tà.
13The fear of the LORD is to hate evil; pride, and arrogancy, and the evil way, and the froward mouth, do I hate.
14Mưu luận và sự thông thạo đều thuộc về ta; Ta là sự thông sáng; năng lực vốn thuộc về ta.
14Counsel is mine, and sound wisdom; I am understanding, power is mine.
15Nhờ ta, các vua cai trị, Và những quan trưởng định sự công bình.
15By me kings reign, and princes decree justice.
16Nhờ ta, các quan trưởng, người tước vị, Và các quan xét thế gian đều quản hạt.
16By me princes rule, and nobles, even all the judges of the earth.
17Ta yêu mến những người yêu mến ta, Phàm ai tìm kiếm ta sẽ gặp ta.
17I love them that love me, and those that seek me earnestly shall find me.
18Sự giàu có, sự tôn trọng, Của cải bền lâu, và sự công bình, đều ở nơi ta.
18Riches and honour are with me; yea, enduring riches and righteousness.
19Bông trái ta tốt hơn vàng, đến đỗi hơn vàng ròng; Hoa lợi của ta quí hơn bạc cao.
19My fruit is better than gold, yea, than fine gold; and my produce than choice silver.
20Ta đi trong con đường công bình, Giữa các lối ngay thẳng,
20I walk in the way of righteousness, in the midst of the paths of justice;
21Đặng làm cho kẻ yêu mến ta hưởng được của cải thật, Và làm cho đầy dẫy các kho tàng của họ.
21That I may cause those that love me to inherit substance, and that I may fill their treasuries.
22Trong buổi Đức Giê-hô-va khởi cuộc tạo hóa, Và thời thái cổ, trước khi chưa dựng nên muôn vật thì Ngài đã có ta.
22The LORD made me as the beginning of His way, the first of His works of old.
23Ta đã được lập từ trước vô cùng Từ khi nguyên thỉ, trước khi dựng nên trái đất.
23I was set up from everlasting, from the beginning, or ever the earth was.
24Lúc chưa có vực sâu, chưa có nguồn chảy nước nhiều, Thì ta đã s sh ra rồi.
24When there were no depths, I was brought forth; when there were no fountains abounding with water.
25Trước khi núi non chưa lập nên, Và các gò nổng chưa có;
25Before the mountains were settled, before the hills was I brought forth;
26Trước khi Đức Giê-hô-va chưa có dựng nên đất, đồng ruộng, Và tro bụi đầu tiên của thế gian, thì ta đã sanh ra rồi.
26While as yet He had not made the earth, nor the fields, nor the beginning of the dust of the world.
27Khi Đức Chúa Trời lập các từng trời, Và đặt cái vòng trên mặt vực sâu, thì có ta ở đó.
27When He established the heavens, I was there; when He set a circle upon the face of the deep,
28Khi Ngài làm cho kiên cố các từng mây trên cao, Khiến các nguồn vực sâu vững chắc,
28When He made firm the skies above, when the fountains of the deep showed their might,
29Định bờ cõi cho biển, Để nước không tràn phạm điều răn của Ngài, Và khi Ngài lập nên trái đất,
29When He gave to the sea His decree, that the waters should not transgress His commandment, when He appointed the foundations of the earth;
30Thì ta ở bên Ngài làm thợ cái, Hằng ngày ta là sự khoái lạc Ngài, Và thường thường vui vẻ trước mặt Ngài.
30Then I was by Him, as a nursling; and I was daily all delight, playing always before Him,
31Ta lấy làm vui vẻ về chỗ có người ở trên trái đất của Ngài, Và sự vui thích ta ở nơi con cái loài người.
31Playing in His habitable earth, and my delights are with the sons of men.
32Vậy, bây giờ, các con ơi! hãy nghe ta; Ai giữ đạo ta lấy làm có phước thay.
32Now therefore, ye children, hearken unto me; for happy are they that keep my ways.
33Khá nghe lời khuyên dạy, và ở khôn ngoan, Chớ nên từ chối nó.
33Hear instruction, and be wise, and refuse it not.
34Người nào nghe lời ta, Hằng ngày tỉnh thức tại nơi cửa ta, Và chờ đợi ở bên các trụ cửa ta, lấy làm có phước thay.
34Happy is the man that hearkeneth to me, watching daily at my gates, waiting at the posts of my doors.
35Vì hễ ai tìm được ta, thì gặp sự sống, Và sẽ được ơn của Đức Giê-hô-va;
35For whoso findeth me findeth life, and obtaineth favour of the LORD.
36Nhưng ai phạm đến ta, làm hại cho linh hồn mình; Còn kẻ nào ghét ta, ắt ưa thích sự chết.
36But he that misseth me wrongeth his own soul; all they that hate me love death.'
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.