Châm
Chapter 8
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Clementine Vulgate…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Sự khôn ngoan há chẳng kêu lên sao? Sự thông sáng há không vang tiếng mình ra ư?
1[Numquid non sapientia clamitat, et prudentia dat vocem suam?
2Sự khôn ngoan đứng trên chót các nơi cao, Ngoài đường, tại các ngã tư.
2In summis excelsisque verticibus supra viam, in mediis semitis stans,
3Gần bên cửa thành, tại nơi vào thành, ỳ chỗ đông trong cửa thành, sự khôn ngoan la lên rằng:
3juxta portas civitatis, in ipsis foribus loquitur, dicens:
4Hỡi loài người, ta kêu gọi các ngươi, Và tiếng ta hướng về con cái loài người!
4O viri, ad vos clamito, et vox mea ad filios hominum.
5Hỡi kẻ ngu muội, hãy hiểu sự khôn khéo; Hỡi kẻ dại dột, lòng ngươi khá nên thông sáng.
5Intelligite, parvuli, astutiam, et insipientes, animadvertite.
6Hãy nghe, vì ta sẽ nói điều tốt lành, Ta hở môi ra mà dạy điều ngay thẳng.
6Audite, quoniam de rebus magnis locutura sum, et aperientur labia mea ut recta prædicent.
7Vì miệng ta sẽ nói chân thật; Còn môi ta ghét sự gian ác.
7Veritatem meditabitur guttur meum, et labia mea detestabuntur impium.
8Các lời miệng ta điều xưng hiệp sự công bình. Trong nó chẳng có điều chi cong vạy hoặc gian tà.
8Justi sunt omnes sermones mei: non est in eis pravum quid, neque perversum;
9Thảy đều rõ ràng cho người nào hiểu biết, Và ngay thẳng cho người nào tìm được sự tri thức.
9recti sunt intelligentibus, et æqui invenientibus scientiam.
10Khá nhận sự khuyên dạy ta, chớ lãnh tiền bạc, Thà lãnh sự tri thức hơn là vàng chọn lựa;
10Accipite disciplinam meam, et non pecuniam; doctrinam magis quam aurum eligite:
11Vì sự khôn ngoan có giá hơn châu ngọc, Và các vật mình ưa thích hơn hết chẳng sánh bằng nó đặng.
11melior est enim sapientia cunctis pretiosissimis, et omne desiderabile ei non potest comparari.]
12Ta, là sự khôn ngoan, đồng ở với sự thông minh, Và tìm được sự hiểu biết, và sự dẽ dặt.
12[Ego sapientia, habito in consilio, et eruditis intersum cogitationibus.
13Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác; Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác, và miệng gian tà.
13Timor Domini odit malum: arrogantiam, et superbiam, et viam pravam, et os bilingue, detestor.
14Mưu luận và sự thông thạo đều thuộc về ta; Ta là sự thông sáng; năng lực vốn thuộc về ta.
14Meum est consilium et æquitas; mea est prudentia, mea est fortitudo.
15Nhờ ta, các vua cai trị, Và những quan trưởng định sự công bình.
15Per me reges regnant, et legum conditores justa decernunt;
16Nhờ ta, các quan trưởng, người tước vị, Và các quan xét thế gian đều quản hạt.
16per me principes imperant, et potentes decernunt justitiam.
17Ta yêu mến những người yêu mến ta, Phàm ai tìm kiếm ta sẽ gặp ta.
17Ego diligentes me diligo, et qui mane vigilant ad me, invenient me.
18Sự giàu có, sự tôn trọng, Của cải bền lâu, và sự công bình, đều ở nơi ta.
18Mecum sunt divitiæ et gloria, opes superbæ et justitia.
19Bông trái ta tốt hơn vàng, đến đỗi hơn vàng ròng; Hoa lợi của ta quí hơn bạc cao.
19Melior est enim fructus meus auro et lapide pretioso, et genimina me argento electo.
20Ta đi trong con đường công bình, Giữa các lối ngay thẳng,
20In viis justitiæ ambulo, in medio semitarum judicii:
21Đặng làm cho kẻ yêu mến ta hưởng được của cải thật, Và làm cho đầy dẫy các kho tàng của họ.
21ut ditem diligentes me, et thesauros eorum repleam.]
22Trong buổi Đức Giê-hô-va khởi cuộc tạo hóa, Và thời thái cổ, trước khi chưa dựng nên muôn vật thì Ngài đã có ta.
22[Dominus possedit me in initio viarum suarum antequam quidquam faceret a principio.
23Ta đã được lập từ trước vô cùng Từ khi nguyên thỉ, trước khi dựng nên trái đất.
23Ab æterno ordinata sum, et ex antiquis antequam terra fieret.
24Lúc chưa có vực sâu, chưa có nguồn chảy nước nhiều, Thì ta đã s sh ra rồi.
24Nondum erant abyssi, et ego jam concepta eram: necdum fontes aquarum eruperant,
25Trước khi núi non chưa lập nên, Và các gò nổng chưa có;
25necdum montes gravi mole constiterant: ante colles ego parturiebar.
26Trước khi Đức Giê-hô-va chưa có dựng nên đất, đồng ruộng, Và tro bụi đầu tiên của thế gian, thì ta đã sanh ra rồi.
26Adhuc terram non fecerat, et flumina, et cardines orbis terræ.
27Khi Đức Chúa Trời lập các từng trời, Và đặt cái vòng trên mặt vực sâu, thì có ta ở đó.
27Quando præparabat cælos, aderam; quando certa lege et gyro vallabat abyssos;
28Khi Ngài làm cho kiên cố các từng mây trên cao, Khiến các nguồn vực sâu vững chắc,
28quando æthera firmabat sursum, et librabat fontes aquarum;
29Định bờ cõi cho biển, Để nước không tràn phạm điều răn của Ngài, Và khi Ngài lập nên trái đất,
29quando circumdabat mari terminum suum, et legem ponebat aquis, ne transirent fines suos; quando appendebat fundamenta terræ:
30Thì ta ở bên Ngài làm thợ cái, Hằng ngày ta là sự khoái lạc Ngài, Và thường thường vui vẻ trước mặt Ngài.
30cum eo eram, cuncta componens. Et delectabar per singulos dies, ludens coram eo omni tempore,
31Ta lấy làm vui vẻ về chỗ có người ở trên trái đất của Ngài, Và sự vui thích ta ở nơi con cái loài người.
31ludens in orbe terrarum; et deliciæ meæ esse cum filiis hominum.
32Vậy, bây giờ, các con ơi! hãy nghe ta; Ai giữ đạo ta lấy làm có phước thay.
32Nunc ergo, filii, audite me: beati qui custodiunt vias meas.
33Khá nghe lời khuyên dạy, và ở khôn ngoan, Chớ nên từ chối nó.
33Audite disciplinam, et estote sapientes, et nolite abjicere eam.
34Người nào nghe lời ta, Hằng ngày tỉnh thức tại nơi cửa ta, Và chờ đợi ở bên các trụ cửa ta, lấy làm có phước thay.
34Beatus homo qui audit me, et qui vigilat ad fores meas quotidie, et observat ad postes ostii mei.
35Vì hễ ai tìm được ta, thì gặp sự sống, Và sẽ được ơn của Đức Giê-hô-va;
35Qui me invenerit, inveniet vitam, et hauriet salutem a Domino.
36Nhưng ai phạm đến ta, làm hại cho linh hồn mình; Còn kẻ nào ghét ta, ắt ưa thích sự chết.
36Qui autem in me peccaverit, lædet animam suam; omnes qui me oderunt diligunt mortem.]

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.