Châm 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Hỡi con, nếu con có bảo lãnh cho kẻ lân cận mình, Nếu con giao tay mình vì người ngoại,
1[Fili mi, si spoponderis pro amico tuo, defixisti apud extraneum manum tuam:
2Thì con đã bị lời miệng mình trói buộc, Mắc phải lời của miệng con.
2illaqueatus es verbis oris tui, et captus propriis sermonibus.
3Hỡi con, bởi vì con đã sa vào tay kẻ lân cận con, Hỡi làm điều nầy và giải cứu mình con: Hãy đi hạ mình xuống, nài xin người lân cận con;
3Fac ergo quod dico, fili mi, et temetipsum libera, quia incidisti in manum proximi tui. Discurre, festina, suscita amicum tuum.
4Chớ để cho hai mắt con ngủ, Hoặc mí mắt con chợp lại;
4Ne dederis somnum oculis tuis, nec dormitent palpebræ tuæ.
5Hãy giải cứu mình khỏi người như con hoàng dương thoát khỏi tay thợ săn, Như con chim thoát khỏi tay kẻ đánh rập.
5Eruere quasi damula de manu, et quasi avis de manu aucupis.]
6Hỡi kẻ biếng nhác, hãy đi đến loài kiến; Khá xem xét cách ăn ở nó mà học khôn ngoan.
6[Vade ad formicam, o piger, et considera vias ejus, et disce sapientiam.
7Tuy nó không có hoặc quan tướng, Hoặc quan cai đốc, hay là quan trấn,
7Quæ cum non habeat ducem, nec præceptorem, nec principem,
8Thì nó cũng biết sắm sửa lương phạn mình trong lúc mùa hè, Và thâu trữ vật thực nó trong khi mùa gặt.
8parat in æstate cibum sibi, et congregat in messe quod comedat.
9Hỡi kẻ biếng nhác, ngươi sẽ nằm cho đến chừng nào? Bao giờ ngươi sẽ ngủ thức dậy?
9Usquequo, piger, dormies? quando consurges e somno tuo?
10Ngủ một chút, chợp mắt một chút, Khoanh tay nằm một chút,
10Paululum dormies, paululum dormitabis, paululum conseres manus ut dormias;
11Thì sự nghèo khổ của ngươi sẽ đến như kẻ đi rảo, Và sự thiếu thốn của ngươi tới như người cầm binh khí.
11et veniet tibi quasi viator egestas, et pauperies quasi vir armatus. Si vero impiger fueris, veniet ut fons messis tua, et egestas longe fugiet a te.]
12Người nào đi đứng có miệng giả dối, Là một kẻ vô loại, một người gian ác;
12[Homo apostata, vir inutilis, graditur ore perverso;
13Hắn liếc con mắt, dùng chân mình bày ý, Và lấy ngón tay mình ra dấu;
13annuit oculis, terit pede, digito loquitur,
14Trong lòng hắn vẫn có sự gian tà; Nó toan mưu ác luôn luôn, Và gieo sự tranh cạnh.
14pravo corde machinatur malum, et omni tempore jurgia seminat.
15Bới cớ ấy, tai họa sẽ xảy đến nó thình lình; Bỗng chúc nó bị bại hoại, không phương thế chữa được.
15Huic extemplo veniet perditio sua, et subito conteretur, nec habebit ultra medicinam.]
16Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét, Và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc:
16[Sex sunt quæ odit Dominus, et septimum detestatur anima ejus:
17Con mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, Tay làm đổ huyết vô tội
17oculos sublimes, linguam mendacem, manus effundentes innoxium sanguinem,
18Lòng toan những mưu ác, Chân vội vàng chạy đến sự dữ,
18cor machinans cogitationes pessimas, pedes veloces ad currendum in malum,
19Kẻ làm chứng gian và nói điều dối, Cùng kẻ gieo sự tranh cạnh trong vòng anh em.
19proferentem mendacia testem fallacem, et eum qui seminat inter fratres discordias.]
20Hỡi con, hãy giữ lời răn bảo của cha, Chớ lìa bỏ các phép tắc của mẹ con.
20[Conserva, fili mi, præcepta patris tui, et ne dimittas legem matris tuæ.
21Khá ghi tạc nó nơi lòng con luôn luôn, Và đeo nó nơi cổ con.
21Liga ea in corde tuo jugiter, et circumda gutturi tuo.
22Khi con đi, các lời đó sẽ dẫn dắt con; Lúc con ngủ, nó gìn giữ con; Và khi con thức dậy, thì nó sẽ trò chuyện với con.
22Cum ambulaveris, gradiantur tecum; cum dormieris, custodiant te: et evigilans loquere cum eis.
23Vì điều răn là một cái đèn, luật pháp là ánh sáng, Và sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống,
23Quia mandatum lucerna est, et lex lux, et via vitæ increpatio disciplinæ:
24Đặng giữ con khỏi người đàn bà ác nghiệp, Và khỏi lưỡi dua nịnh của dâm phụ.
24ut custodiant te a muliere mala, et a blanda lingua extraneæ.
25Lòng con chớ tham muốn sắc nó, Đừng để mình mắc phải mí mắt nó.
25Non concupiscat pulchritudinem ejus cor tuum, nec capiaris nutibus illius:
26Vì tại kỵ nữ có người nông nổi chỉ còn một miếng bánh mà thôi; Người dâm phụ vẫn lừa sẵn linh hồn quí báu.
26pretium enim scorti vix est unius panis, mulier autem viri pretiosam animam capit.
27Há có người nào để lửa trong lòng mình, Mà áo người lại chẳng bị cháy sao?
27Numquid potest homo abscondere ignem in sinu suo, ut vestimenta illius non ardeant?
28Há có ai đi trên than lửa hực, Mà chân mình lại chẳng bị phồng chăng?
28aut ambulare super prunas, ut non comburantur plantæ ejus?
29Kẻ nào đi tới cùng vợ người lân cận mình cũng vậy; Phàm ai đụng đến nàng ắt chẳng được khỏi bị phạt.
29sic qui ingreditur ad mulierem proximi sui, non erit mundus cum tetigerit eam.
30Người ta chẳng khinh dị kẻ trộm, Nếu nó ăn cắp đặng phỉ lòng mình khi đói khát;
30Non grandis est culpa cum quis furatus fuerit: furatur enim ut esurientem impleat animam;
31Hễ nó bị bắt, chắc phải thường bồi gấp bảy lần; Nó sẽ nộp hết tài sản của nhà nó.
31deprehensus quoque reddet septuplum, et omnem substantiam domus suæ tradet.
32Kẻ nào phạm tội ngoại tình với người đàn bà, tất vô tâm vô trí: Ai làm như vậy, khiến cho linh hồn mình bị hư mất.
32Qui autem adulter est, propter cordis inopiam perdet animam suam;
33Người ấy sẽ bị thương tích và khinh bỉ, Sự sỉ nhục người sẽ chẳng bôi mất đi;
33turpitudinem et ignominiam congregat sibi, et opprobrium illius non delebitur:
34Vì sự ghen ghét là điều giận dữ của người nam, Trong ngày báo thù, người không dung thứ;
34quia zelus et furor viri non parcet in die vindictæ,
35Người sẽ chẳng nhận giá đền tội nào hết, Mặc dầu con gia tăng của lễ, người cũng không đặng phỉ ý đâu.
35nec acquiescet cujusquam precibus, nec suscipiet pro redemptione dona plurima.]
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.