Châm 22
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Danh tiếng tốt còn hơn tiền của nhiều; Và ơn nghĩa quí hơn bạc và vàng.
1[Melius est nomen bonum quam divitiæ multæ; super argentum et aurum gratia bona.
2Kẻ giàu và người nghèo đều gặp nhau; Đức Giê-hô-va đã dựng nên cả hai.
2Dives et pauper obviaverunt sibi: utriusque operator est Dominus.
3Người khôn ngoan thấy điều tai vạ, và ẩn mình; Nhưng kẻ ngu muội cứ đi luôn, và mắc phải vạ.
3Callidus vidit malum, et abscondit se; innocens pertransiit, et afflictus est damno.
4Phần thưởng của sự khiêm nhượng và sự kính sợ Đức Giê-hô-va, Aáy là sự giàu có, sự tôn trọng, và mạng sống.
4Finis modestiæ timor Domini, divitiæ, et gloria, et vita.
5Trong đường kẻ gian tà có gai chông và cái bẫy; Ai gìn giữ linh hồn mình sẽ cách xa nó.
5Arma et gladii in via perversi; custos autem animæ suæ longe recedit ab eis.
6Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo; Dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó.
6Proverbium est: adolescens juxta viam suam; etiam cum senuerit, non recedet ab ea.
7Người giàu quản hạt kẻ nghèo; Kẻ nào mượn là tôi tớ của kẻ cho mượn.
7Dives pauperibus imperat, et qui accipit mutuum servus est fœnerantis.
8Kẻ nào giao sự bất công sẽ gặt điều tai họa; Và cây roi thạnh nộ nó sẽ bị gãy đi.
8Qui seminat iniquitatem metet mala, et virga iræ suæ consummabitur.
9Người nào có mắt từ thiện sẽ được phước; Vì người ban bánh mình cho kẻ nghèo khó.
9Qui pronus est ad misericordiam benedicetur: de panibus enim suis dedit pauperi. Victoriam et honorem acquiret qui dat munera; animam autem aufert accipientium.
10Hãy đuổi kẻ nhạo báng ra, thì sự cãi lẫy cũng sẽ đi; Điều tranh cạnh và sự sỉ nhục sẽ hết.
10Ejice derisorem, et exibit cum eo jurgium, cessabuntque causæ et contumeliæ.
11Ai ái mộ lòng thánh sạch, Và có duyên nơi môi miệng mình, sẽ được vua làm bạn nghĩa.
11Qui diligit cordis munditiam, propter gratiam labiorum suorum habebit amicum regem.
12Mắt của Đức Giê-hô-va coi giữ người có tri thức; Nhưng Ngài đánh đổ lời kẻ gian tà.
12Oculi Domini custodiunt scientiam, et supplantantur verba iniqui.
13Kẻ biếng nhác nói: Có con sư tử ở ngoài đó; Tôi sẽ bị giết tại giữa đường.
13Dicit piger: Leo est foris; in medio platearum occidendus sum.
14Miệng của dâm phụ vốn là một cái hố sâu; Ai bị Đức Giê-hô-va giận sẽ sa ngã vào đó.
14Fovea profunda os alienæ: cui iratus est Dominus, incidet in eam.
15Sự ngu dại vốn buộc vào lòng con trẻ; Song roi răn phạt sẽ làm cho sự ấy lìa xa nó.
15Stultitia colligata est in corde pueri, et virga disciplinæ fugabit eam.
16Người nào hà hiếp kẻ nghèo ắt sẽ làm cho nó giàu có; Và ai cho kẻ giàu có chỉ làm cho người sa vào sự thiếu thốn.
16Qui calumniatur pauperem ut augeat divitias suas, dabit ipse ditiori, et egebit.]
17Hãy lắng tai nghe lời kẻ khôn ngoan, Khá chuyên lòng con về sự tri thức ta.
17[Inclina aurem tuam, et audi verba sapientium: appone autem cor ad doctrinam meam,
18Vì nếu con gìn giữ nó trong lòng con, Lập nó ở chung nhau trên môi miệng con, thì ấy thật một sự tốt đẹp.
18quæ pulchra erit tibi cum servaveris eam in ventre tuo, et redundabit in labiis tuis:
19Ngày nay ta đã dạy cho con hiểu biết các điều đó, Để con có lòng tin cậy Đức Giê-hô-va.
19ut sit in Domino fiducia tua, unde et ostendi eam tibi hodie.
20Ta há chẳng có chép cho con Những điều tốt về mưu luận và về tri thức sao,
20Ecce descripsi eam tibi tripliciter, in cogitationibus et scientia:
21Để làm cho con biết sự quả quyết của lời chân lý, Hầu cho con lấy lời thật mà đáp lại với những người sai con?
21ut ostenderem tibi firmitatem et eloquia veritatis, respondere ex his illis qui miserunt te.
22Chớ bóc lột kẻ nghèo, bởi vì họ nghèo, Cũng đừng hà hiếp người khốn khổ nơi cửa thành;
22Non facias violentiam pauperi quia pauper est, neque conteras egenum in porta:
23Vì Đức Giê-hô-va sẽ binh vực duyên cớ của họ, Và đoạt lấy sự sống của kẻ có cướp lột họ.
23quia judicabit Dominus causam ejus, et configet eos qui confixerunt animam ejus.
24Chớ làm bạn với người hay giận; Chớ giao tế cùng kẻ cường bạo,
24Noli esse amicus homini iracundo, neque ambules cum viro furioso:
25E con tập theo đường lối nó, Và linh hồn con bị bẫy hãm hại chăng.
25ne forte discas semitas ejus, et sumas scandalum animæ tuæ.
26Chớ đồng bọn cùng những kẻ giao tay nhau, Hoặc cùng kẻ bảo lãnh nợ:
26Noli esse cum his qui defigunt manus suas, et qui vades se offerunt pro debitis:
27Nếu con không có gì trả, Cớ sao con muốn chúng đoạt lấy cái giường con đi?
27si enim non habes unde restituas, quid causæ est ut tollat operimentum de cubili tuo?
28Chớ dời đi các mộc giới cũ, Mà tổ phụ con đã dựng.
28Ne transgrediaris terminos antiquos, quos posuerunt patres tui.
29Con có thấy người nào siêng năng trong công việc mình chăng? Người ấy hẳn sẽ đứng ở trước mặt các vua, chớ chẳng phải ở trước mặt người hèn hạ đâu.
29Vidisti virum velocem in opere suo? coram regibus stabit, nec erit ante ignobiles.]
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.