Châm
Chapter 27
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Clementine Vulgate…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Chớ khoe khoang về ngày mai; Vì con chẳng biết ngày mai sẽ sanh ra điều gì.
1[Ne glorieris in crastinum, ignorans quid superventura pariat dies.
2Hãy để cho kẻ khác khen ngợi con, miệng con chẳng nên làm; Để cho một người ngoài tán mỹ con, môi con đừng làm.
2Laudet te alienus, et non os tuum; extraneus, et non labia tua.
3Đá thì nặng, cát cũng nặng; Nhưng cơn tức giận của kẻ ngu dại còn nặng hơn cả hai.
3Grave est saxum, et onerosa arena, sed ira stulti utroque gravior.
4Sự căm gan vốn hung dữ, và cơn giận như nước tràn ra; Nhưng ai đứng nổi trước sự ghen ghét?
4Ira non habet misericordiam nec erumpens furor, et impetum concitati ferre quis poterit?
5Một lời quở trách tỏ tường Hơn là thương yêu giấu kín.
5Melior est manifesta correptio quam amor absconditus.
6Bạn hữu làm cho thương tích, ấy bởi lòng thành tín; Còn sự hôn hít của kẻ ghen ghét lấy làm giả ngụy.
6Meliora sunt vulnera diligentis quam fraudulenta oscula odientis.
7Kẻ no nê giày đạp tàng mật dưới chân mình; Song điều gì đắng cũng lấy làm ngọt cho kẻ đói khát.
7Anima saturata calcabit favum, et anima esuriens etiam amarum pro dulci sumet.
8Kẻ lưu lạc xa cách nơi ở của mình, Giống như chim bay đây đó khỏi ổ nó vậy.
8Sicut avis transmigrans de nido suo, sic vir qui derelinquit locum suum.
9Dầu và thuốc thơm làm khoan khoái linh hồn; Lời khuyên do lòng bạn hữu ra cũng êm dịu dường ấy.
9Unguento et variis odoribus delectatur cor, et bonis amici consiliis anima dulcoratur.]
10Chớ lìa bạn mình, hay là bạn của cha mình; Trong ngày hoạn nạn chớ đi đến nhà anh em mình: Một người xóm giềng gần còn hơn anh em xa.
10[Amicum tuum et amicum patris tui ne dimiseris, et domum fratris tui ne ingrediaris in die afflictionis tuæ. Melior est vicinus juxta quam frater procul.
11Hỡi con, khá khôn ngoan, và làm vui lòng cha, Để cha có thế đáp lại cùng kẻ nào sỉ nhục cha.
11Stude sapientiæ, fili mi, et lætifica cor meum, ut possis exprobranti respondere sermonem.
12Người khôn khéo thấy trước sự tai hại, bèn lo ẩn núp mình; Còn kẻ ngu muội cứ đi qua, và phải mang lấy tai vạ.
12Astutus videns malum, absconditus est: parvuli transeuntes sustinuerunt dispendia.
13Hãy lấy áo của người, vì người đã bảo lãnh cho kẻ lạ; Khá buộc người một của cầm, vì người đã đáp thế cho người dâm phụ.
13Tolle vestimentum ejus qui spopondit pro extraneo, et pro alienis aufer ei pignus.
14Kẻ nào chổi dậy sớm chúc phước lớn tiếng cho bạn hữu mình, Người ta sẽ kể điều đó là sự rủa sả.
14Qui benedicit proximo suo voce grandi, de nocte consurgens maledicenti similis erit.
15Một máng xối dột luôn luôn trong ngày mưa lớn, Và một người đàn bà hay tranh cạnh, cả hai đều y như nhau.
15Tecta perstillantia in die frigoris et litigiosa mulier comparantur.
16Ai muốn ngăn giữ nàng, khác nào ngăn giữ gió, Và như tay hữu cầm lấy dầu vậy.
16Qui retinet eam quasi qui ventum teneat, et oleum dexteræ suæ vocabit.
17Sắt mài nhọn sắt. Cũng vậy người bổ dưỡng diện mạo bạn hữu mình.
17Ferrum ferro exacuitur, et homo exacuit faciem amici sui.
18Ai săn sóc cây vả, sẽ ăn trái nó; Và kẻ nào hầu chủ mình ắt được tôn trọng.
18Qui servat ficum comedet fructus ejus, et qui custos est domini sui glorificabitur.
19Mặt dọi mặt trong nước thế nào, Lòng người đối với người cũng thế ấy.
19Quomodo in aquis resplendent vultus prospicientium, sic corda hominum manifesta sunt prudentibus.
20Con mắt loài người chẳng hề chán, Cũng như âm phủ và vực sâu không hề đầy vậy.
20Infernus et perditio numquam implentur: similiter et oculi hominum insatiabiles.
21Lò thử bạc, dót thử vàng; Còn sự khen ngợi thử loài người.
21Quomodo probatur in conflatorio argentum et in fornace aurum, sic probatur homo ore laudantis. Cor iniqui inquirit mala, cor autem rectum inquirit scientiam.
22Dầu con dùng chầy giã mà giã kẻ ngu dại trong cối Chung lộn với gạo, Thì sự điên dại nó cũng không lìa khỏi nó.
22Si contuderis stultum in pila quasi ptisanas feriente desuper pilo, non auferetur ab eo stultitia ejus.]
23Hãy rán biết cảnh trạng bầy chiên con, Và lo săn sóc các đoàn bò của con;
23[Diligenter agnosce vultum pecoris tui, tuosque greges considera:
24Vì sự giàu có không lưu tồn mãi mãi, Và mũ triều thiên há còn đến đời đời sao?
24non enim habebis jugiter potestatem, sed corona tribuetur in generationem et generationem.
25Cỏ khô đã mất đi, cỏ non bèn mọc ra, Và người ta thâu nhập rau cỏ núi.
25Aperta sunt prata, et apparuerunt herbæ virentes, et collecta sunt fœna de montibus.
26Lông chiên con dùng làm áo xống cho con, Giá dê đực dùng mua đồng ruộng.
26Agni ad vestimentum tuum, et hædi ad agri pretium.
27Sữa dê có đủ làm đồ ăn cho con, Cho người nhà con, và đặng nuôi lấy các con đòi của con.
27Sufficiat tibi lac caprarum in cibos tuos, et in necessaria domus tuæ, et ad victum ancillis tuis.]

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.