Châm
Chapter 8
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Sự khôn ngoan há chẳng kêu lên sao? Sự thông sáng há không vang tiếng mình ra ư?
1Palunghahaih mah kami to kawk ai maw? Panoekhaih mah doeh tha hoi lokthui ai maw?
2Sự khôn ngoan đứng trên chót các nơi cao, Ngoài đường, tại các ngã tư.
2Anih loe hmuensang hoi lamkrung taengah angdoet.
3Gần bên cửa thành, tại nơi vào thành, ỳ chỗ đông trong cửa thành, sự khôn ngoan la lên rằng:
3Anih loe vangpui thung akunhaih khongkha taeng, thoknawk taengah angdoet moe, tha hoi a hangh.
4Hỡi loài người, ta kêu gọi các ngươi, Và tiếng ta hướng về con cái loài người!
4Aw kahing kaminawk, kang kawk o; kaminawk hanah lok ka thuih pae.
5Hỡi kẻ ngu muội, hãy hiểu sự khôn khéo; Hỡi kẻ dại dột, lòng ngươi khá nên thông sáng.
5Aw poekhaih tawn ai kami rumramnawk, palunghahaih to panoek oh; Aw amthu kaminawk, panoekhaih palungthin to tawn oh.
6Hãy nghe, vì ta sẽ nói điều tốt lành, Ta hở môi ra mà dạy điều ngay thẳng.
6Tahngai oh, hmuen kahoih kang thuih o han; toenghaih lok to kang thuih o han.
7Vì miệng ta sẽ nói chân thật; Còn môi ta ghét sự gian ác.
7Ka pakha mah loktang lok to thui ueloe, ka pahni mah sethaih to panuet tih.
8Các lời miệng ta điều xưng hiệp sự công bình. Trong nó chẳng có điều chi cong vạy hoặc gian tà.
8Ka pakha pong ih loknawk boih loe toeng, angkawnh moe, amsoem ai lok maeto doeh om ai.
9Thảy đều rõ ràng cho người nào hiểu biết, Và ngay thẳng cho người nào tìm được sự tri thức.
9Thaikop kami hanah loe hmuennawk boih to zoi, palunghahaih pakrong kami han loe toenghaih ah oh.
10Khá nhận sự khuyên dạy ta, chớ lãnh tiền bạc, Thà lãnh sự tri thức hơn là vàng chọn lựa;
10Sumkanglung pongah loe ka thuitaekhaih hae talawk ah loe, sui pongah loe palunghahaih to qoi ah.
11Vì sự khôn ngoan có giá hơn châu ngọc, Và các vật mình ưa thích hơn hết chẳng sánh bằng nó đặng.
11Atho kana thlung kathim pongah loe palunghahaih to hoih kue, to loe koeh ih hmuennawk boih hoiah patah thai ai.
12Ta, là sự khôn ngoan, đồng ở với sự thông minh, Và tìm được sự hiểu biết, và sự dẽ dặt.
12Ka palunghahaih loe acoehaih hoiah amraep pongah, palunghahaih hoi panoekhaih to ohsak.
13Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác; Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác, và miệng gian tà.
13Kahoih ai hmuen zithaih loe, Angraeng zithaih ah oh; amoekhaih, poeksanghaih, sethaih loklam hoi lok kangkoiah thuihaih to ka hnukma.
14Mưu luận và sự thông thạo đều thuộc về ta; Ta là sự thông sáng; năng lực vốn thuộc về ta.
14Poek kahoih paekhaih hoi palunghahaih loe kai ih ni; kai loe panoekhaih hoi sakthaihaih tha to ka tawnh.
15Nhờ ta, các vua cai trị, Và những quan trưởng định sự công bình.
15Siangpahrangnawk loe kai rang hoiah ni angraeng tangkhang nuiah anghnut o moe, katoeng patukhaih to angraengnawk mah pazui o.
16Nhờ ta, các quan trưởng, người tước vị, Và các quan xét thế gian đều quản hạt.
16Kai rang hoiah angraeng capanawk, angraengnawk hoi lokcaekkungnawk mah, long kaminawk to uk o.
17Ta yêu mến những người yêu mến ta, Phàm ai tìm kiếm ta sẽ gặp ta.
17Kai palung kaminawk to ka palung, palung tang hoi kai pakrong kaminawk mah loe kai to ang hnuk o.
18Sự giàu có, sự tôn trọng, Của cải bền lâu, và sự công bình, đều ở nơi ta.
18Angraenghaih hoi pakoehhaih loe kai khaeah oh; ue, atue kasawkah kakaan angraenghaih hoi toenghaih doeh oh.
19Bông trái ta tốt hơn vàng, đến đỗi hơn vàng ròng; Hoa lợi của ta quí hơn bạc cao.
19Kai ih athaih loe sui pongah hoih kue; ue, kaciim suitui pongah doeh hoih kue; kai khae hoi hakih hmuen loe, qoih het ih sumkanglung pongah doeh hoih kue.
20Ta đi trong con đường công bình, Giữa các lối ngay thẳng,
20Kai loe toenghaih hoi katoeng lokcaekhaih loklam um li ah ka caeh pongah,
21Đặng làm cho kẻ yêu mến ta hưởng được của cải thật, Và làm cho đầy dẫy các kho tàng của họ.
21kai palung kaminawk khaeah qawktoephaih to ka paek, nihcae hmuen patunghaih ahmuen to ka koisak han.
22Trong buổi Đức Giê-hô-va khởi cuộc tạo hóa, Và thời thái cổ, trước khi chưa dựng nên muôn vật thì Ngài đã có ta.
22Kai loe canghnii ih hmuennawk sah ai nathuem, a tok sak amtong tangsuek na hoi boeh ni Angraeng ih hmuen ah ka oh.
23Ta đã được lập từ trước vô cùng Từ khi nguyên thỉ, trước khi dựng nên trái đất.
23Kai loe long om ai vop, long oh amtong tangsuek nathuem hoiah dungzan ah ang caksak boeh.
24Lúc chưa có vực sâu, chưa có nguồn chảy nước nhiều, Thì ta đã s sh ra rồi.
24Tuipuinawk om o ai vop, vapui tui doeh long ai naah, kai hae ang tapen boeh.
25Trước khi núi non chưa lập nên, Và các gò nổng chưa có;
25Maenawk om ai vop, maesomnawk doeh om ai naah, kai hae ang tapen boeh;
26Trước khi Đức Giê-hô-va chưa có dựng nên đất, đồng ruộng, Và tro bụi đầu tiên của thế gian, thì ta đã sanh ra rồi.
26long hoi tawnawk to sah ai vop, long nui ih maiphu doeh sah ai naah, kai hae ang tapen boeh.
27Khi Đức Chúa Trời lập các từng trời, Và đặt cái vòng trên mặt vực sâu, thì có ta ở đó.
27Vannawk to sak moe, tuipuinawk hmaa ah kaom hmuennawk to a sak nathuem,
28Khi Ngài làm cho kiên cố các từng mây trên cao, Khiến các nguồn vực sâu vững chắc,
28van ranui ih tamainawk to a sak moe, tuipui thung ih tuinawk to thacaksak nathuem;
29Định bờ cõi cho biển, Để nước không tràn phạm điều răn của Ngài, Và khi Ngài lập nên trái đất,
29a paek ih lok to tui mah poeng thai han ai ah, long angdoethaih ahmuen a sak naah kai ka oh boeh:
30Thì ta ở bên Ngài làm thợ cái, Hằng ngày ta là sự khoái lạc Ngài, Và thường thường vui vẻ trước mặt Ngài.
30to naah kai loe anih hoi nawnto qoeng tahang capa baktiah, anih taengah ka oh; ni thokkruek anih anghoehaih ah ka oh; a hmaa ah anghoehaih hoiah ka koi poe;
31Ta lấy làm vui vẻ về chỗ có người ở trên trái đất của Ngài, Và sự vui thích ta ở nơi con cái loài người.
31a sak ih long nuiah anghoehaih ka tawnh moe, kami capanawk nuiah doeh oephaih ka tawnh.
32Vậy, bây giờ, các con ơi! hãy nghe ta; Ai giữ đạo ta lấy làm có phước thay.
32To pongah Aw ka caanawk, ka lok hae tahngai oh; kai ih loklam pazui kaminawk loe tahamhoih o.
33Khá nghe lời khuyên dạy, và ở khôn ngoan, Chớ nên từ chối nó.
33Kang thuitaekhaih lok to tahngai oh, pahnawt o hmah loe, palungha oh.
34Người nào nghe lời ta, Hằng ngày tỉnh thức tại nơi cửa ta, Và chờ đợi ở bên các trụ cửa ta, lấy làm có phước thay.
34Ka lok tahngaih moe, ni thokkruek kai ih khongkhanawk to toep pacoengah, kai ih thok tungnawk taengah zing kami loe, tahamhoih.
35Vì hễ ai tìm được ta, thì gặp sự sống, Và sẽ được ơn của Đức Giê-hô-va;
35Kai hnu kami loe hinghaih to hnuk; Angraeng anghoehaih to a hnuk.
36Nhưng ai phạm đến ta, làm hại cho linh hồn mình; Còn kẻ nào ghét ta, ắt ưa thích sự chết.
36Toe ka hmaa ah zaehaih sah kami loe, a hinghaih paro kami ah oh; kai hnuma kaminawk boih loe, duekhaih palung kami ah ni oh o.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.