Châm 16
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Việc toan liệu của lòng thuộc về loài người; Còn sự đáp lời của lưỡi do Đức Giê-hô-va mà đến.
1Kami mah a poekhaih hoiah khokhan, toe lok pathimhaih loe Angraeng khae hoiah ni angzoh.
2Các đường lối của người đều là trong sạch theo mắt mình; Song Đức Giê-hô-va cân nhắc cái lòng.
2Kami mah loe a caehhaih loklam to katoeng boih ah poek; toe Angraeng mah loe palungthin to khingh.
3Hãy phó các việc mình cho Đức Giê-hô-va, Thì những mưu ý mình sẽ được thành công.
3Na sak ih hmuen kruekah Angraeng khaeah amha ah; to tih nahaeloe nam sakhaih hmacawn tih.
4Đức Giê-hô-va đã dựng nên muôn vật để dùng cho Ngài; Đến đỗi kẻ ác cũng vậy, để dành cho ngày tai họa.
4Angraeng mah hmuennawk boih angmah hanah ni sak; ue, kasae kaminawk loe sethaih ani to tong hanah ohsak.
5Phàm ai có lòng kiêu ngạo lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va; Quả thật nó sẽ chẳng được khỏi bị phạt.
5Amoek kaminawk loe Sithaw mah panuet; nihcae loe nawnto amhong o cadoeh, danpaekhaih to loih o mak ai.
6Nhờ sự nhân từ và chân thật tội lỗi được chuộc; Và bởi sự kính sợ Đức Giê-hô-va người ta xây bỏ điều ác.
6Palungnathaih hoi loktang mah zaehaih to ciimsak; Sithaw zii kami loe zaehaih to caeh taak.
7Khi tánh hạnh của người nào đẹp lòng Đức Giê-hô-va, Thì Ngài cũng khiến các thù nghịch người ở hòa thuận với người.
7Kami mah Angraeng anghoe koiah khosak naah, a misa hoiah mataeng doeh angdaeh thaih.
8Thà ít của mà có sự công bình, Hơn là nhiều hoa lợi với sự bất nghĩa cặp theo.
8Katoeng ai loklam hoiah hmuenmae pop ah hak pongah loe, toenghaih hoiah hmuenmae zetta hak to hoih kue.
9Lòng người toan định đường lối mình; Song Đức Giê-hô-va chỉ dẫn các bước của người.
9Kami mah a caehhaih loklam to poek; toe a caehhaih loklam to Angraeng mah patuek.
10Lời của Chúa ở môi vua; Miệng người sẽ không sai lầm khi xét đoán.
10Sithaw mah thuih ih lok to siangpahrang ih pakha ah oh; anih ih pakha hoiah katoeng ai lok to tacawt han om ai.
11Trái cân và vá cân công bình thuộc về Đức Giê-hô-va; Các trái cân trong bao là công việc của Ngài.
11Katoeng hmuenzit tahhaih hoi coi tahhaih loe Angraeng ih hmuen ah oh; pasah thung ih kazit hmuen tahhaih boih loe anih mah sak ih hmuen ah oh.
12Làm gian ác, ấy là điều gớm ghiếc cho vua chúa; Vì nhờ công bình ngôi nước được lập vững bền.
12Angraeng tangkhang loe toenghaih hoiah sak pongah, kahoih ai hmuen sakhaih loe siangpahrangnawk hanah panuet thoh.
13Môi miệng người công bình là sự vui vẻ cho các vua; Họ ưa mến kẻ nói ngay thẳng.
13Katoeng kami ih pahni to siangpahrangnawk mah anghoe o haih; loktang lokthui kami to palung o.
14Cơn thạnh nộ của vua khác nào sứ giả sự chết; Nhưng người khôn ngoan làm cho nó nguôi đi.
14Siangpahrang palungphuihaih loe duekhaih laicaeh baktiah oh; toe palungha kami loe palungphuihaih to dipsak.
15Nhờ sắc mặt vua sáng sủa bèn được sự sống; Aân điển người khác nào áng mây dẫn mưa muộn.
15Siangpahrang mikhmai pan naah hinghaih to oh; anih anghoehaih loe hnukkhuem ih khotui baktiah oh.
16Được sự khôn ngoan, thật quí hơn vàng ròng biết mấy! Được thông sáng, đáng chuộng hơn bạc biết bao!
16Sui pongah loe palunghahaih to hoih kue; sumkanglung qoih pongah loe palunghahaih qoih to kawkruk maw hoih!
17Đạo của người ngay thẳng, ấy là lìa bỏ sự ác; Ai canh giữ tánh nết mình giữ lấy linh hồn mình.
17Kahoih ai hmuen caehtaakhaih loe katoeng kami ih loklam ah oh; a caehhaih loklam hoi amkhraeng ai kami loe a hinghaih angvaeng thaih kami ah oh.
18Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã.
18Amoekhaih loe amrohaih ih loklam ni; poeksanghaih mah amtimhaih loklam ah caeh haih.
19Thà khiêm nhượng mà ở với người nhu mì, Còn hơn là chia của cướp cùng kẻ kiêu ngạo.
19Kamoek kami hoi angkom moe, a lomh ih hmuen to amzet pongah loe, palungsawk kami hoi angkom moe, kami tlim ah khosak to hoih kue.
20Ai giữ theo đạo lý tìm được ích; Và ai trông cậy nơi Đức Giê-hô-va lấy làm có phước thay.
20Palunghahaih hoi toksah kami loe khosak hoih tih; Angraeng oephaih tawn kami loe tahamhoih.
21Ai có lòng khôn ngoan được gọi là thông sáng; Lời dịu dàng gia thêm sự tri thức.
21Poekhaih palungha kami loe khopoek thaih kami ah oh; kahoih lokthui thaih pahni loe minawk han palunghahaih lok to patuk thaih.
22Người có được thông sáng, tức có được nguồn sự sống; Nhưng sự điên dại của kẻ ngu muội, ấy là sự sửa phạt của nó.
22Palunghahaih tawn kami loe hinghaih tuipuek ah oh; toe kamthu thuitaekhaih lok loe amthuhaih ah ni oh.
23Lòng người khôn ngoan dạy dỗ miệng mình, Và thêm sự học thức nơi môi của mình.
23Palungha ih palungthin loe angmah ih pakha to thuitaek moe, a pahni ah palunghahaih to thap pae.
24Lời lành giống như tàng ong, Ngon ngọt cho tâm hồn, và khỏe mạnh cho xương cốt.
24Tahngai kahoih loknawk loe khoitui baktiah oh; na hinghaih pakhra hanah luep moe, huhong to ngantuisak.
25Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng cuối cùng nó thành ra cái nẻo sự chết.
25Kami maeto hanah loe katoeng loklam maeto baktiah amtueng; toe boenghaih ah loe duekhaih loklam ah oh.
26Sự biết đói của kẻ lao khổ giúp làm việc cho người, Bởi vì miệng người thúc giục người.
26Toksah kami loe, angmah ih pakha pacah han ih ni tok to a sak.
27Thằng điếm toan mưu hại người ta; Và trên môi nó có như ngọn lửa hừng.
27Sithaw panoek ai kami loe kahoih ai hmuen to poek, a thuih ih lok doeh kangqong hmai baktiah ni oh.
28Kẻ gian tà gieo điều tranh cạnh; Và kẻ thèo lẻo phân rẽ những bạn thiết cốt.
28Poektoeng ai kami loe angzoehhaih atii to a haeh; pronghaih mah ampui kangzong to ampraeksak.
29Kẻ cường bạo quyến dụ bậu bạn mình, Và dẫn người vào con đường không tốt.
29Poeksae kami loe a imtaeng kami to pacuek moe, kahoih ai loklam to pazuisak.
30Kẻ nào nhắm mắt đặng toan liệu điều gian tà, Và kẻ nào bặm môi mình, đều làm thành việc ác.
30Kahoih ai kami loe kasae hmuen sak hanah, a mik to pasimh moe, kahoih ai hmuen angcoengsak hanah, pahni to haehsak.
31Tóc bạc là mão triều thiên vinh hiển, Miễn là thấy ở trong đường công bình.
31Toenghaih loklam ah khosak pongah sam to pok nahaeloe, lensawkhaih lumuek ah ni oh.
32Người chậm nóng giận thắng hơn người dõng sĩ; Và ai cai trị lòng mình thắng hơn kẻ chiếm lấy thành.
32Palungsawk kami loe thacak kami pongah hoih kue; poekhaih angsum thaih kami loe vangpui pazawk kami pongah hoih kue.
33Người ta bẻ thăm trong vạt áo; Song sự nhất định do nơi Đức Giê-hô-va mà đến.
33Taham khethaih phoisa vahhaih hoiah sak ih lok takroekhaih loe aimacae mah ni sak o; toe hmuen boih nuiah lok takroekkung loe Angraeng ni.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.