Châm
Chapter 25
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đây cũng là những châm ngôn của Sa-lô-môn, mà các người của Ê-xê-chia, vua Giu-đa sao tả.
1Hae hmuennawk loe Judah siangpahrang Hezekiah ih kaminawk mah tarik pakong patoeng ih, Solomon palunghahaih loknawk ah oh.
2Giấu kín việc nào, ấy là vinh hiển của Đức Chúa Trời; Nhưng dò xét điều nào, ấy là vinh hiển của các vua.
2Sithaw lensawkhaih loe amtueng ai ah kaom hmuen maeto ah oh; toe hmuen maeto kawng pakronghaih loe siangpahrangnawk lensawkhaih ah oh.
3Người ta không thể dò biết bề cao của từng trời, Bề sâu của đất, hay là lòng của các vua.
3Van loe sang moe, long loe thuk baktih toengah, siangpahrangnawk ih palung loe hnu thai mak ai.
4Hãy lấy cặn bã khỏi bạc, Thì thợ bạc liền được một khí dụng;
4Sumkanglung thung ih sum aek to va ah, to naah ni sum sahkung mah boengloeng kahoih to sah thai tih.
5Hãy trừ kẻ ác khỏi trước mặt vua, Thì ngôi người sẽ nhờ công bình được lập bền vững.
5Kasae kaminawk to siangpahrang hmaa hoiah takhoe oh; to tiah ni anih ih angraeng tangkhang to toenghaih hoiah cak poe tih.
6Chớ phô mình trước mặt vua, Và đừng ngồi tại chỗ của người cao trọng.
6Siangpahrang hmaa ah nangmah hoi nangmah to amkoeh hmah; kalen kaminawk ih ahmuen ah angdoe hmah;
7Vì thà người ta nói cùng con rằng: Hãy lên đây, Hơn là người ta hạ con xuống trước mặt vua chúa, mà mắt con đã thấy.
7mik hoiah na hnuk ih angraeng hmaa ah azathaih hoiah oh pongah loe, Hae ah angzo tahang ah, tiah thui kami ih lok to tahngaih han hoih kue.
8Chớ vội gây ra điều tranh tụng, E rốt cuộc khi kẻ lân cận con đã làm con hổ thẹn, Con sẽ chẳng biết làm chi.
8Lokcaekhaih im ah kami to karangah khing hmah; hnukkhuem ah na imtaeng kami mah azathaih na tongsak nahaeloe kawbangah maw na om tih?
9Hãy đối nại duyên cớ con với chính kẻ lân cận con, Song chớ tỏ sự kín đáo của kẻ khác;
9Na imtaeng kami hoi poek anghmong ai pongah lok angaek cadoeh, tamqu hmuen to minawk khaeah taphong hmah;
10E khi người nghe điều ấy sẽ trách con, Và sự sỉ nhục con không hề bôi hết chăng.
10to tih ai nahaeloe lok thaih kami mah nang azathaih tongsak hanah taphong ueloe, na hmin hoihaih to amro moeng tih.
11Lời nói phải thì, Khác nào trái bình bát bằng vàng có cẩn bạc.
11Kahoih lok apaehhaih loe sumkanglung pazut het ih sui bungmu hoiah anghmong.
12Người khôn ngoan quở trách lỗ tai hay nghe, Khác nào một cái vòng vàng, một đồ trang sức bằng vàng ròng vậy.
12Palunghahaih lok hoi thuitaek kami loe, lok tahngai kami hanah, sui naa tangkraeng baktih, suitui kaciim hoiah sak ih bungmu baktiah oh.
13Sứ giả trung tín với người sai đi, Giống như tuyết mát mẻ trong ngày mùa gặt; Vì người bổ sức linh hồn của chủ mình.
13Oep kaom laicaeh loe anih patoehkung hanah, cang aah nathuem ih dantui kamding baktiah oh, patoehkung Angraeng ih palungthin to angthasak.
14Kẻ nào tự khoe khoang giả dối về lễ vật mình, Tợ như có mây có gió, mà không mưa.
14Tangqum paek han, tiah amoek moe, paek ai kami loe khotui om ai tamai hoiah anghmong.
15Hằng chậm nóng giận mới khuyên được lòng của quan trưởng; Còn lưỡi mềm dịu bẻ gãy các xương.
15Pauephaih rang hoiah ukkung to pazawk thaih moe, loknaem mah ahuh to angkhaehsak thaih.
16Nếu con tìm được mật, hãy ăn vừa phải, Kẻo khi ăn no chán, con mửa ra chăng.
16Khoitui to na hnuk maw? Kahoih boekah caa ah, amhah aak ah na caak nahaeloe na palok tih.
17Chớ năng bước chân đến nhà kẻ lân cận con, E người chán con, và trở lòng ghét con chăng.
17Na imtaeng khaeah kahoih boekah caeh ah, na caeh tuektuek nahaeloe, na hmawt ueloe, na hnuma moeng tih.
18Kẻ nào đối chứng giả dối cho người lân cận mình, Khác nào một cái búa, một cây gươm, một mũi tên nhọn.
18A imtaeng kami nuiah amsawn hnukung ah angdoe kami loe thingboeng, haita, palaa hoiah anghmong.
19Tin cậy kẻ bất trung trong ngày hoạn nạn, Giống như răng bị gãy bể, tỉ như chân trẹo đi.
19Raihaih tong naah oep kaom ai kami khaeah amhahaih loe, haa kangkhaek, khokkhaem kami hoiah anghmong.
20Ai hát cho lòng buồn thảm nghe, Khác nào kẻ lột áo mình khi ngày lạnh, Và như giấm đổ trên diêm tiêu vậy.
20Poek angpho kami khaeah laasah kami loe siktue ah laihaw angkhring kami, zencing nuiah kathaw tui bawh baktiah ni oh.
21Nếu kẻ thù nghịch con có đói, hãy cho nó ăn; Nếu có khát, hãy cho nó uống;
21Na misa to zok amthlam nahaeloe buh paek ah; tui anghae nahaeloe naek hanah tui to paek ah;
22Vì như vậy con chất than cháy đỏ trên đầu nó, Và Đức Giê-hô-va sẽ báo lại cho con.
22hae loe anih lu nuiah hmaisaae koeng pae baktiah om ueloe, Angraeng mah tahamhoihaih na paek tih.
23Gió bắc sanh ra mưa; Còn lưỡi nói hành cách kín đáo gây cho mặt mày giận dữ.
23Aluek bang ih takhi mah kho angzohsak baktih toengah, minawk kasae thui kami ih palai mah palungphuihaih to tacawtsak.
24Thà ở một góc trên mái nhà, Hơn là ở chung nhà với người đàn bà hay tranh cạnh.
24Angzoeh koeh zu hoiah kakawk parai im thungah nawnto oh pongah loe imphu ranui ih im takii ah oh to hoih kue.
25Tin Lành ở xứ xa đến, Giống như nước mát mẻ cho người khát khao.
25Angthla parai ahmuen hoiah angzo kahoih tamthanglok loe pakhra tui anghae kami hanah tui kamding ah oh.
26Người công bình xiêu tó trước mặt kẻ gian ác, Khác nào một suối nước bị dấy đục, một nguồn nước bị hư.
26Kahoih ai kami hmaa ah kamtimh katoeng kami loe tui kamnu hoi kaqong tui baktiah ni oh.
27Aên mật nhiều quá lấy làm chẳng tốt; Và cầu kiếm vinh hiển cho mình ấy gây sự tổn hại.
27Khoitui pop hmoek ah caak han hoih ai baktih toengah, angmah lensawkhaih pakrong kami loe lensawkhaih to hnu mak ai.
28Người nào chẳng chế trị lòng mình, Khác nào một cái thành hư nát, không có vách ngăn.
28A poekhaih angsum ai kami loe sipae om ai, kamtimh vangpui hoiah anghmong.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.