Châm
Chapter 21
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Lòng của vua ở trong tay Đức Giê-hô-va khác nào dòng nước chảy; Ngài làm nghiêng lệch nó bề nào tùy ý Ngài muốn.
1Siangpahrang ih palung loe, vapui baktiah Angraeng ban ah oh moe, a koehhaih ahmuen bangah longh.
2Các đường lối của loài người đều chánh đáng theo mắt họ; Song Đức Giê-hô-va cân nhắc cái lòng.
2Kami maeto boih mah a caehhaih loklam to toeng, tiah poek; toe Angraeng loe palungthin ni khingh.
3Làm theo sự công bình và ngay thẳng Được đẹp lòng Đức Giê-hô-va hơn của tế lễ.
3Angbawnhaih ah paek ih hmuen pongah loe, katoengah sak ih hmuen, katoengah lokcaekhaih to Angraeng mah koeh kue.
4Mặt tự cao, lòng kiêu ngạo, Và ngọn đèn của kẻ ác, đều là tội lỗi.
4Azat panoek ai mik tamdai hoi amoek palungthin, kahoih ai kami ih hmaithaw loe zaehaih hae ni.
5Các ý tưởng của người cần mẫn dẫn đến sự dư dật; Còn những kẻ khờ dại chỉ chạy đến điều thiếu thốn.
5Poek het pacoengah toksah kami loe angraeng, tawt kaak hoi toksah kami loe amtang.
6Tài vật nhờ dùng lưỡi dối gạt mà được, Aáy là một điều hư không mau hết của kẻ tìm sự chết.
6Lok amlaihaih hoi hak ih hmuen loe kazawk tamai hoi duekhaih thaang ah ni oh.
7Sự cường bạo của kẻ ác sẽ đùa chúng nó đi; Vì chúng nó không khứng làm điều ngay thẳng.
7Kahoih ai kaminawk loe kahoih hmuen to sak koeh o ai pongah, a sak o ih sethaih hmuen mah angmacae to amrosak tih.
8Con đường của kẻ gánh tội là quanh quẹo; Còn công việc kẻ trong sạch vốn ngay thẳng.
8Kami caehhaih loklam loe angkawnh; toe poekciim kami toksakhaih loe toeng.
9Thà ở nơi xó nóc nhà, Hơn là ở chung nhà với một người đàn bà hay tranh cạnh.
9Angzoeh koeh zu hoiah kawk parai im ah oh pongah loe, imphu ranui ih im takii ah oh to hoih kue.
10Lòng kẻ dữ ao ước điều ác; Kẻ lân cận nó không được ơn trước mặt nó.
10Kahoih ai kami loe uthaih palung to tawnh; a imtaeng kami nuiah doeh tahmenhaih tawn ai.
11Khi kẻ nhạo báng bị phạt, người ngu dại bèn trở nên khôn ngoan; Khi khuyên dạy người khôn ngoan, người nhận lãnh sự tri thức.
11Kahoih ai kami danpaek naah, poek tawn ai kami to palungha lat; palungha kami thuitaek naah loe anih mah panoekhaih to hak.
12Có một Đấng công bình xem xét kỹ càng nhà kẻ ác; Đấng ấy xô những kẻ ác vào tai họa.
12Katoeng kami loe kahoih ai kami ih im to palunghahaih hoiah khet; toe kahoih ai kami loe a sak ih sethaih pongah amrosak.
13Ai bưng tai không khứng nghe tiếng kêu la của người nghèo khổ, Người đó cũng sẽ kêu la mà sẽ chẳng có ai đáp lại.
13Amtang kami qah naah naa tamuep kami loe, a qah naah mi mah doeh tahngai pae mak ai.
14Của lễ dâng kín nhiệm nguôi cơn thạnh nộ; Của hối lộ đút vào lòng làm ngất cơn giận dữ tợn.
14Tamquta hoi paek ih tangqum mah palungphuihaih dipsak; tamquta hoi paek ih bokhaih tangqum mah kanung parai palungphuihaih to dipsak.
15Làm điều ngay thẳng, ấy là một việc vui vẻ cho người công bình; Nhưng gây bại hoại cho kẻ làm gian ác.
15Kahoih kami loe katoeng hmuen sakhaih nuiah anghoehaih tawnh; toe sethaih sah kami hanah loe amrohaih ah oh.
16Người lầm lạc xa đường khôn sáng Sẽ ở với hội kẻ chết.
16Palunghahaih loklam hoi amkhraeng kami loe kadueh kaminawk salakah ni anghak tih.
17Ai ham sự vui chơi ắt sẽ nghèo khó; Còn ai ưa rượu với dầu sẽ chẳng hề làm giàu.
17Nawmhaih koeh kami loe amtang tih; mu hoi situi koeh kami doeh angraeng mak ai.
18Kẻ ác là một giá chuộc người công bình; Và kẻ dối gạt thế chỗ cho người ngay thẳng.
18Kahoih ai kami loe katoeng kami akranghaih ah oh moe, zaehaih sah kami loe katoeng kami hanah oh.
19Thà ở nơi vắng vẻ, Hơn là ở với một người đàn bà hay tranh cạnh và nóng giận.
19Angzoeh koeh moe, poeksae zu hoi nawnto oh pongah loe, praezaek ah oh to hoih kue.
20Có bửu vật và dầu trong nhà người khôn ngoan; Nhưng kẻ ngu muội nuốt nó đi.
20Palungha im ah loe buh hoi situi amthlai pok ah oh; toe kamthu loe a tawnh ih hmuennawk to tahmat boih.
21Người nào tìm cầu sự công bình và sự nhân từ sẽ tìm được sự sống, sự công bình, và tôn trọng.
21Toenghaih hoi tahmenhaih pakrong kami loe hinghaih, toenghaih hoi ahmin pakoehhaih to hnuk.
22Người khôn ngoan leo lên thành dõng sĩ, Đánh hạ sức lực mà nó nương cậy.
22Palungha kami loe thacak kami ih vangpui to tuk moe, nihcae mah oep o ih sipae to phraek pae thaih.
23Ai giữ lấy miệng và lưỡi mình Giữ linh hồn mình khỏi hoạn nạn.
23Pahni hoi palai cip kami loe raihaih thung hoi a hinghaih loih thai hanah angvaeng kami ah oh.
24Nhạo báng, ấy là tên của người kiêu căng cao cách; Nó cư xử cách xấc xược theo tánh kiêu ngạo của nó.
24Amoek moe, palungphui thaih kami loe amoek kami, minawk pahnuithuih kami, tiah kawk o.
25Sự ước ao của kẻ biếng nhác giết chết nó; Bởi vì hai tay nó không khứng làm việc.
25Thasae kami loe bantha set pongah, vawthaih mah duehsak tih.
26Có người trót ngày ham hố quá; Nhưng người công bình ban cho không chắt lót.
26To baktih kami loe ni thokkruek angaihaih pop aep aep; toe katoeng kami loe paawt ai ah paek.
27Của tế lễ của kẻ ác là một vật gớm ghiếc; Phương chi họ đem đến mà có ác tưởng.
27Kahoih ai kami mah paek ih angbawnhaih hmuen loe panuet thoh; anih mah kasae poekhaih palungthin hoi hmuen to sin nahaeloe kawkruk maw panuet thok aep tih!
28Chứng dối giả sẽ hư mất đi; Nhưng người hay nghe theo sẽ nói được mãi mãi.
28Amsoem ai hnukungah kaom kami loe amro tih; toe lok thaih tangtang kami loe katoeng ah lokthuih.
29Kẻ ác tự làm mặt chai mày đá; Còn người ngay thẳng làm vững đường lối mình.
29Kasae kami loe mikhmai pan thai ai; toe katoeng kami loe a caehhaih loklam to poek.
30Chẳng có sự khôn ngoan nào, sự thông minh nào, hay là mưu kế nào, Mà chống địch Đức Giê-hô-va được.
30Angraeng ai ah loe palunghahaih, panoekhaih hoi sak atimhaih loe azom pui ni.
31Ngựa sắm sửa về ngày tranh chiến; Nhưng sự thắng trận thuộc về Đức Giê-hô-va.
31Misatuk hanah hrang to suek coek boeh; toe misa pazawkhaih loe Angraeng ih ni.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.