Châm 8
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Sự khôn ngoan há chẳng kêu lên sao? Sự thông sáng há không vang tiếng mình ra ư?
1Чи ж премудрість не покликує, чи розум не знїмає свій голос?
2Sự khôn ngoan đứng trên chót các nơi cao, Ngoài đường, tại các ngã tư.
2Вона стає на високих місцях, при дорозї, та на роздорожжях;
3Gần bên cửa thành, tại nơi vào thành, ỳ chỗ đông trong cửa thành, sự khôn ngoan la lên rằng:
3Вона кличе коло воріт при ввіходї в місто, коло ввіходу в самі двері:
4Hỡi loài người, ta kêu gọi các ngươi, Và tiếng ta hướng về con cái loài người!
4Люде, се до вас я покликую, до синів чоловічих мій голос!
5Hỡi kẻ ngu muội, hãy hiểu sự khôn khéo; Hỡi kẻ dại dột, lòng ngươi khá nên thông sáng.
5Навчайтесь, нерозумні, мудростї, і ви, глупі — розуму!
6Hãy nghe, vì ta sẽ nói điều tốt lành, Ta hở môi ra mà dạy điều ngay thẳng.
6Слухайте, бо я про важне говорити буду, й сама се правда, що уста мої виповідають.
7Vì miệng ta sẽ nói chân thật; Còn môi ta ghét sự gian ác.
7Бо саму правду говорить язик мій, а все, що безбожне, — гидота устам моїм.
8Các lời miệng ta điều xưng hiệp sự công bình. Trong nó chẳng có điều chi cong vạy hoặc gian tà.
8Всї слова уст моїх справедливі; нема в них облуду анї омани.
9Thảy đều rõ ràng cho người nào hiểu biết, Và ngay thẳng cho người nào tìm được sự tri thức.
9Всї вони ясні тому, хто має розум, і справедливі для тих, що знання набули.
10Khá nhận sự khuyên dạy ta, chớ lãnh tiền bạc, Thà lãnh sự tri thức hơn là vàng chọn lựa;
10Прийміть мою науку над срібло раднїще, знаннє моє ви цїнуйте над золото щире;
11Vì sự khôn ngoan có giá hơn châu ngọc, Và các vật mình ưa thích hơn hết chẳng sánh bằng nó đặng.
11Мудрість бо над перли дорожша, й нїчо, що можна бажати, з нею не зрівняєсь.
12Ta, là sự khôn ngoan, đồng ở với sự thông minh, Và tìm được sự hiểu biết, và sự dẽ dặt.
12Я, премудрість, пробуваю з розумом і шукаю розважливого знання.
13Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác; Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác, và miệng gian tà.
13Страх Господень — значить ненавидїти зло; гордощі, високомірність, зла путь і двоязичні уста менї ненависні.
14Mưu luận và sự thông thạo đều thuộc về ta; Ta là sự thông sáng; năng lực vốn thuộc về ta.
14В мене рада й правда, я — розум, у мене сила.
15Nhờ ta, các vua cai trị, Và những quan trưởng định sự công bình.
15Мною й царі царюють і праводавцї встановляють справедливість;
16Nhờ ta, các quan trưởng, người tước vị, Và các quan xét thế gian đều quản hạt.
16Мною правлять князї й вельможні, та всї суддї землї.
17Ta yêu mến những người yêu mến ta, Phàm ai tìm kiếm ta sẽ gặp ta.
17Люблю я тих, що мене люблять, і хто мене шукає, той знайде мене.
18Sự giàu có, sự tôn trọng, Của cải bền lâu, và sự công bình, đều ở nơi ta.
18І богацтво й слава в мене, всї блага неминущі й справедливість;
19Bông trái ta tốt hơn vàng, đến đỗi hơn vàng ròng; Hoa lợi của ta quí hơn bạc cao.
19Плоди мої лучші золота — золота найчистїйшого, а хісна з мене більше, як із найдобірнїйшого срібла.
20Ta đi trong con đường công bình, Giữa các lối ngay thẳng,
20Я ходжу шляхами правди, правосуду стежками,
21Đặng làm cho kẻ yêu mến ta hưởng được của cải thật, Và làm cho đầy dẫy các kho tàng của họ.
21Щоб подати тим, хто мене любить, справдешнє добро, й скарбівнї їх я наповнюю.
22Trong buổi Đức Giê-hô-va khởi cuộc tạo hóa, Và thời thái cổ, trước khi chưa dựng nên muôn vật thì Ngài đã có ta.
22Господь мав мене перед розпочатком путей своїх, перш нїж що сотворив, з правіків;
23Ta đã được lập từ trước vô cùng Từ khi nguyên thỉ, trước khi dựng nên trái đất.
23Од вічностї мене він помазав, від почину, перед настаннєм землї.
24Lúc chưa có vực sâu, chưa có nguồn chảy nước nhiều, Thì ta đã s sh ra rồi.
24Я родилась, як ще не було безодень, як ще нїде джерела водою не дзюрчали.
25Trước khi núi non chưa lập nên, Và các gò nổng chưa có;
25Родилась, як ще з землї не воздвиглись гори, перше нїж горби постали;
26Trước khi Đức Giê-hô-va chưa có dựng nên đất, đồng ruộng, Và tro bụi đầu tiên của thế gian, thì ta đã sanh ra rồi.
26Як іще він не сотворив нї землї, нї степу, нї грудок тих, що з них злїпивсь круг земний.
27Khi Đức Chúa Trời lập các từng trời, Và đặt cái vòng trên mặt vực sâu, thì có ta ở đó.
27Як розпростирав він небо, була я там. Як він закруглював кружало безоднї,
28Khi Ngài làm cho kiên cố các từng mây trên cao, Khiến các nguồn vực sâu vững chắc,
28Як хмари в горі згущав, як замикав джерела безоднї (надземної),
29Định bờ cõi cho biển, Để nước không tràn phạm điều răn của Ngài, Và khi Ngài lập nên trái đất,
29Як давав морю приказ, щоб води не переступали гряниць його, як він підвалини землї закладав, —
30Thì ta ở bên Ngài làm thợ cái, Hằng ngày ta là sự khoái lạc Ngài, Và thường thường vui vẻ trước mặt Ngài.
30Тодї була я при йому строїтелькою, й була його радістю день за днем, веселячись перед ним увесь час,
31Ta lấy làm vui vẻ về chỗ có người ở trên trái đất của Ngài, Và sự vui thích ta ở nơi con cái loài người.
31Веселячись на земному крузї його, радість же моя була — дїти людські.
32Vậy, bây giờ, các con ơi! hãy nghe ta; Ai giữ đạo ta lấy làm có phước thay.
32Проте ж, дїти, слухайте мене; й благословенні ті, хто стежок моїх пильнує.
33Khá nghe lời khuyên dạy, và ở khôn ngoan, Chớ nên từ chối nó.
33Слухайте науки, й будьте мудрі, та й не одступайте від неї.
34Người nào nghe lời ta, Hằng ngày tỉnh thức tại nơi cửa ta, Và chờ đợi ở bên các trụ cửa ta, lấy làm có phước thay.
34Блажен, хто слухає мене, й невсипущо перебуває день-у-день у воріт моїх, та стоїть на сторожі під дверима в мене!
35Vì hễ ai tìm được ta, thì gặp sự sống, Và sẽ được ơn của Đức Giê-hô-va;
35Бо хто знайшов мене, знайшов життє, й одержить ласку від Господа;
36Nhưng ai phạm đến ta, làm hại cho linh hồn mình; Còn kẻ nào ghét ta, ắt ưa thích sự chết.
36Хто ж грішить проти мене, душі своїй той шкодить: всї, що цураються мене, люблять смерть.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.