Châm 14
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Người nữ khôn ngoan xây cất nhà mình; Song kẻ ngu dại lấy tay mình mà phá hủy nó đi.
1Жона розумна дом свій будує, безумна ж розвалить його своїми руками.
2Ai đi theo sự ngay thẳng kính sợ Đức Giê-hô-va; Còn ai ăn ở tà vạy khinh bỉ Ngài,
2Хто ходить правою дорогою, той Господа боїться, чиї ж дороги криві, той про него не дбає.
3Trong miệng kẻ ngu dại có cây roi đánh phạt sự kiêu ngạo nó; Song môi người khôn ngoan giữ lấy người.
3В безумного в устах — бич гординї; мудрих же уста оберігають їх.
4Đâu không có bò, đó máng cỏ trống không; Nhưng nhiều hoa lợi do nơi sức bò đực mà ra.
4Де воликів нема, порожні там і ясла; а хороший вроджай від сили волів.
5Người chứng trung thành không hề nói dối; Còn kẻ làm chứng gian buông lời dối trá.
5Правдливий сьвідок неправди не говорить, а ложний сьвідок наговорить багато неправди.
6Kẻ nhạo báng tìm khôn ngoan, mà không gặp; Song sự tri thức lấy làm dễ cho người thông sáng.
6Шукає мудростї безпутний та й не знаходить, а мудрому знаннє легке.
7Hãy dan xa khỏi mặt kẻ ngu muội, Con sẽ chẳng tìm được môi khôn ngoan nơi nó.
7Ійди геть від того, хто розуму не має, в кого невидні тобі уста розумні.
8Sự trí huệ của người khôn khéo, ấy là hiểu rõ đường lối mình; Nhưng sự điên cuồng của kẻ ngu muội là sự phỉnh gạt.
8Мудрість розумного — свою дорогу знати, дурнота ж безумних — збиватись із дороги.
9Kẻ ngu dại bỉ báng tội lỗi; Nhưng người ngay thẳng có được ơn của Đức Chúa Trời.
9Недоумки з гріха сьміються, а між праведними — ласкавість.
10Lòng nhìn biết sự cay đắng của lòng; Một người ngoại không chia vui với nó được.
10Журбу душі своєї всяке серце знає, і в радощі його чужому не мішатись.
11Nhà kẻ gian ác sẽ bị đánh đổ; Song trại người ngay thẳng sẽ được hưng thạnh.
11Будинок беззаконних розпадеться, а доброго намет, знай, процьвітати буде.
12Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết.
12Доволї є шляхів, що нам здаються праві, та конець їх — се дорога до смертї.
13Dầu trong lúc cười cợt lòng vẫn buồn thảm; Và cuối cùng sự vui, ấy là điều sầu não.
13І при сьміху болить нераз серце, та й кінцем радощів буває смуток.
14Lòng kẻ nào lìa xa Đức Chúa Trời sẽ được no nê sự kết quả của mình; Còn người lành nhờ chính mình mà được thỏa nguyện.
14Чоловік із ледачим серцем насититься з поступків своїх, а добрий — зо своїх.
15Kẻ ngu dốt tin hết mọi lời; Nhưng người khôn khéo xem xét các bước mình.
15Безумний віри йме всякому слову, а розумний вважає на дороги свої.
16Người khôn ngoan sợ và tránh khỏi điều ác; Song kẻ ngu muội ở xấc xược, và có lòng cậy mình.
16Тямущий злого, знай, опасливо боїться, безумний же буйний і надїєн сам на себе.
17Người nóng nảy làm điên làm dại; Và kẻ toan mưu ác bị ghét.
17Чоловік-горячка, буває, що й дурницю зробить, хто ж нарочно чинить зло, — ненависний.
18Kẻ ngu muội được sự điên dại làm cơ nghiệp; Song người khôn ngoan được đội mão triều thiên bằng tri thức.
18Невіжі унаслїдують дурноту, розумні же вквітчаються знаннєм.
19Người ác phục trước mặt người thiện; Và kẻ dữ cúi lạy ở ngoài cửa người công bình.
19Ледачі добрим уклоняться низенько, а й безбожні — в воротях праведника.
20Người nghèo khó dầu láng giềng cũng ghét bỏ; Nhưng bằng hữu của người giàu thì nhiều thay.
20Бідного не любить навіть рідня його, а в богатого повно приятелїв.
21Ai khinh bỉ kẻ lân cận mình phạm tội; Còn ai thương xót người khốn khó lấy làm có phước thay.
21Грішить, хто ближнїм гордує, а благословен той, хто до вбогого милосердний.
22Kẻ toan mưu ác há chẳng lầm lạc sao? Còn nhân từ và chân thật thuộc về người toan mưu thiện.
22Ті помиляються, що задумують зло, любов і віра тим, хто думає про добре.
23Trong các thứ công việc đều có ích lợi; Nhưng miệng nói nhiều chỉ dẫn đến sự thiếu thốn.
23З усякої працї є користь, а з пустого балакання хиба тільки шкода.
24Giàu có là mão triều thiên cho người khôn ngoan; Còn điên cuồng của kẻ ngây dại chỉ là điên cuồng.
24Вінець мудрих — їх багацтво, а дурощі дурних — дурощами й остануть.
25Kẻ làm chứng chân thật giải cứu linh hồn người ta; Song kẻ nào nói dối gây sự phỉnh gạt.
25Сьвідок правдомовний рятує душі, а льживий тільки багато льжи насплїтає.
26Trong sự kính sợ Đức Giê-hô-va có nơi nương cậy vững chắc; Và con cái Ngài sẽ được một nơi ẩn núp.
26В Господнїм страсї кріпка надїя; всїм синам своїм він — утечище.
27Sự kính sợ Đức Giê-hô-va vốn một nguồn sự sống, Đặng khiến người ta tránh khỏi bẫy sự chết.
27Господень страх — се джерело жизнї; він відвертає від западень смертї.
28Dân sự đông đảo, ấy là sự vinh hiển của vua; Còn dân sự ít, ấy khiến cho quan tướng bị bại.
28Величен царь тодї, як люд великий лїчбою, як же омаль людей — біда князеві.
29Kẻ nào chậm nóng giận có thông sáng lớn; Nhưng ai hay nóng nảy tôn lên sự điên cuồng.
29Терпеливий чоловік показує великий розум, а хто на гнїв палкий, виявлює дурноту.
30Lòng bình tịnh là sự sống của thân thể; Còn sự ghen ghét là đồ mục của xương cốt.
30Лагідне серце життє для тїла, а зависть зжерає й костї.
31Kẻ hà hiếp người nghèo khổ làm nhục Đấng Tạo hóa mình; Còn ai thương xót người bần cùng tôn trọng Ngài.
31Хто вбогого тїснить — творця його зневажає, хто ж Бога чтить, бідного спомагає.
32Kẻ ác bị đánh đổ trong sự gian ác mình; Nhưng kẻ công bình vẫn có nơi nương cậy, dầu trong khi chết.
32Безбожний за зло своє буде відкинен, а праведний і при смертї має надїю.
33Sự khôn ngoan ở tại lòng người thông sáng; Còn điều ở trong lòng kẻ ngu muội được lộ ra.
33У серцї в мудрого мудрість спочиває, та й між неуками дає про себе знати.
34Sự công bình làm cho nước cao trọng; Song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc.
34Праведність підносить у гору народ, а безбожність — сором народів.
35Vua làm ơn cho tôi tớ nào ăn ở khôn sáng; Nhưng cơn thạnh nộ vua nổi nghịch cùng kẻ gây sự hổ thẹn.
35Ласкавість у царя — до слуги розумного, а гнїв його на такого, що стид йому робить.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.