Châm 14
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Người nữ khôn ngoan xây cất nhà mình; Song kẻ ngu dại lấy tay mình mà phá hủy nó đi.
1O KA wahine naauao, oia ke kukulu i kona hale; Wawahi iho la ka mea naaupo me kona mau lima.
2Ai đi theo sự ngay thẳng kính sợ Đức Giê-hô-va; Còn ai ăn ở tà vạy khinh bỉ Ngài,
2O ka mea hele ma kona pololei, oia ka i makau ia Iehova; O ka mea i hookekee i kona aoao, oia ka i hoowahawaha ia ia.
3Trong miệng kẻ ngu dại có cây roi đánh phạt sự kiêu ngạo nó; Song môi người khôn ngoan giữ lấy người.
3Ma ka waha o ka mea naaupo, he laau hahau ka haaheo; O na lehelehe o ka poe naauao, oia ke malama aku ia lakou.
4Đâu không có bò, đó máng cỏ trống không; Nhưng nhiều hoa lợi do nơi sức bò đực mà ra.
4I ole na bipi, kaawale ka hale waihona ai, A ua nui hoi ka waiwai ma ka ikaika o ka bipi.
5Người chứng trung thành không hề nói dối; Còn kẻ làm chứng gian buông lời dối trá.
5O ka mea hoike oiaio, aole oia e wahahee; E hai wahahee mai no ka mea hoike hoopunipuni.
6Kẻ nhạo báng tìm khôn ngoan, mà không gặp; Song sự tri thức lấy làm dễ cho người thông sáng.
6Imi ae la ka mea hoowahawaha i ke akamai, aole loaa; He hikiwawe no ka ike i ka mea naauao.
7Hãy dan xa khỏi mặt kẻ ngu muội, Con sẽ chẳng tìm được môi khôn ngoan nơi nó.
7E huli ae oe mai ke alo aku o ke kauaka lapuwale, Ke hoomaopopo ole oe i na lehelehe ike.
8Sự trí huệ của người khôn khéo, ấy là hiểu rõ đường lối mình; Nhưng sự điên cuồng của kẻ ngu muội là sự phỉnh gạt.
8O ke akamai o ka mea ike, oia ka hoomaopopo ana i kona aoao; O ka lapuwale o ka poe naaupo, oia ka hoopunipuni.
9Kẻ ngu dại bỉ báng tội lỗi; Nhưng người ngay thẳng có được ơn của Đức Chúa Trời.
9Akaaka ka poe lapuwale i ka hewa; Me ka poe hoopololei ka hoomaikaiia.
10Lòng nhìn biết sự cay đắng của lòng; Một người ngoại không chia vui với nó được.
10Ua ike ka naau i ke kaumaha o kona uhane iho; Aohe hoi i mea mai ka malihini i kona olioli.
11Nhà kẻ gian ác sẽ bị đánh đổ; Song trại người ngay thẳng sẽ được hưng thạnh.
11O ka hale o ka poe hewa, e hoohioloia; O ka halelewa o ka poe pololei, e paa mau no ia,
12Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết.
12O kekahi aoao, he pololei ia i kanaka; O kona hope hoi, oia ka aoao o ka make.
13Dầu trong lúc cười cợt lòng vẫn buồn thảm; Và cuối cùng sự vui, ấy là điều sầu não.
13I ka akaaka ana, he ehaeha ko ka naau; O ka hope hoi o ia lealea, oia ke kaumaha.
14Lòng kẻ nào lìa xa Đức Chúa Trời sẽ được no nê sự kết quả của mình; Còn người lành nhờ chính mình mà được thỏa nguyện.
14E hoopihaia auauei ka naau o ka mea hoi hope i kona aoaoiho; A o ke kanaka maikai hoi i kona hua iho.
15Kẻ ngu dốt tin hết mọi lời; Nhưng người khôn khéo xem xét các bước mình.
15Manaoio no ka mea noonoo ole i na olelo a pau; Aka, o ka mea maalea, nana pono oia i kona hele ana.
16Người khôn ngoan sợ và tránh khỏi điều ác; Song kẻ ngu muội ở xấc xược, và có lòng cậy mình.
16O ka mea naauao, makau no ia, a haalele i ka hewa; O ka mea lapuwale hoi, he haaheo kona a me ka makau ole.
17Người nóng nảy làm điên làm dại; Và kẻ toan mưu ác bị ghét.
17O ka hiki wawe o ka huhu, oia ka hana lapuwale; O ke kanaka imi i na manao hewa, ua inaina oia.
18Kẻ ngu muội được sự điên dại làm cơ nghiệp; Song người khôn ngoan được đội mão triều thiên bằng tri thức.
18E ili mai ka lapuwale no ka poe noonoo ole; E kau hoi ka ike me he lei la maluna o ka poe naauao.
19Người ác phục trước mặt người thiện; Và kẻ dữ cúi lạy ở ngoài cửa người công bình.
19Kulou ae ka poe hewa imua i ke alo o ka poe maikai; O ka poe aia hoi ma ka ipuka o ka mea pono.
20Người nghèo khó dầu láng giềng cũng ghét bỏ; Nhưng bằng hữu của người giàu thì nhiều thay.
20Ua inainaia ka mea ilihune e kona hoanoho; O ka mea waiwai, lehulehu kona poe makamaka.
21Ai khinh bỉ kẻ lân cận mình phạm tội; Còn ai thương xót người khốn khó lấy làm có phước thay.
21O ka mea hoowahawaha i kona hoanoho, ua hewa oia; O ka mea lokomaikai aku i ka mea i nele, pomaikai oia.
22Kẻ toan mưu ác há chẳng lầm lạc sao? Còn nhân từ và chân thật thuộc về người toan mưu thiện.
22Aole anei he lalau wale ko ka poe imi hewa? He aloha a he oiaio na ka poe imi maikai.
23Trong các thứ công việc đều có ích lợi; Nhưng miệng nói nhiều chỉ dẫn đến sự thiếu thốn.
23Ma ka hana a pau he waiwai no; Aka, o ke kamailio wale o na lehelehe, pili i ka ilihune wale no.
24Giàu có là mão triều thiên cho người khôn ngoan; Còn điên cuồng của kẻ ngây dại chỉ là điên cuồng.
24O ka lei o ka poe akamai, oia ko lakou waiwai; O ka lapuwale o ka poe naaupo, he lapuwale wale iho no ia.
25Kẻ làm chứng chân thật giải cứu linh hồn người ta; Song kẻ nào nói dối gây sự phỉnh gạt.
25Hoopakele i na uhane ka mea hoike oiaio; O ka mea hoike wahahee, hoopunipuni no ia.
26Trong sự kính sợ Đức Giê-hô-va có nơi nương cậy vững chắc; Và con cái Ngài sẽ được một nơi ẩn núp.
26Ma ka makau ia Iehova, malaila ka paulele nui; He puuhonua hoi ia na kana poe keiki.
27Sự kính sợ Đức Giê-hô-va vốn một nguồn sự sống, Đặng khiến người ta tránh khỏi bẫy sự chết.
27O ka makau ia Iehova, he punawai ola ia, He mea ia e haalele ai i na pahele o ka make.
28Dân sự đông đảo, ấy là sự vinh hiển của vua; Còn dân sự ít, ấy khiến cho quan tướng bị bại.
28Ma ka lehulehu o na kanaka ka hanohano o ke alii, A i ole na kanaka ua make ke alii.
29Kẻ nào chậm nóng giận có thông sáng lớn; Nhưng ai hay nóng nảy tôn lên sự điên cuồng.
29O ka mea uumi i ka huhu, oia ka noonoo nui; O ka mea hikiwawe i ka huhu, oia ke hoike i ka lapuwale.
30Lòng bình tịnh là sự sống của thân thể; Còn sự ghen ghét là đồ mục của xương cốt.
30O ke ola no ke kino, oia ka naau oluolu, O ka lili, oia ka popopo o na iwi.
31Kẻ hà hiếp người nghèo khổ làm nhục Đấng Tạo hóa mình; Còn ai thương xót người bần cùng tôn trọng Ngài.
31O ka mea hookaumaha i ka mea nele, oia ka i hoowahawaha i ka Mea nana ia i hana; O ka mea malama aku ia ia, oia ke aloha i ka mea ilihune.
32Kẻ ác bị đánh đổ trong sự gian ác mình; Nhưng kẻ công bình vẫn có nơi nương cậy, dầu trong khi chết.
32Hookukeia ka mea hewa iloko o kona hewa; Lana hoi ka manao o ka mea pono i kona make ana.
33Sự khôn ngoan ở tại lòng người thông sáng; Còn điều ở trong lòng kẻ ngu muội được lộ ra.
33Noho no ka naauao ma ka naau o ka mea noonoo; Ua ikea hoi ko loko o ka poe lapuwale.
34Sự công bình làm cho nước cao trọng; Song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc.
34Hookiekie ae la ka pono i ka lahuikanaka; O ka hewa hoi ka mea e hoowahawahaia'i na kanaka.
35Vua làm ơn cho tôi tớ nào ăn ở khôn sáng; Nhưng cơn thạnh nộ vua nổi nghịch cùng kẻ gây sự hổ thẹn.
35O ka makemake o ke alii, aia i ke kauwa naauao; O kona huhu aia i ka mea e hilahila ai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.