Gióp
Chapter 33
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Clementine Vulgate…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Nhưng vậy, hỡi Gióp, xin hãy nghe diễn thuyết tôi. Khá lắng tai nghe các lời nói tôi.
1[Audi igitur, Job, eloquia mea, et omnes sermones meos ausculta.
2Kìa, tôi đã mở miệng ra, Lưỡi tôi nói trong họng tôi.
2Ecce aperui os meum: loquatur lingua mea in faucibus meis.
3Các lời tôi nói sẽ chiếu theo sự chánh trực của lòng tôi; Điều tôi biết lưỡi tôi sẽ nói cách thành thực.
3Simplici corde meo sermones mei, et sententiam puram labia mea loquentur.
4Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn năng ban cho tôi sự sống.
4Spiritus Dei fecit me, et spiraculum Omnipotentis vivificavit me.
5Nếu đáp được, hãy đáp lại cho tôi, Hãy đứng dậy, bày ra lời của ông tại trước mặt tôi!
5Si potes, responde mihi, et adversus faciem meam consiste.
6Hãy xem, đối cùng Đức Chúa Trời tôi với ông có khác chi, Tôi cũng bởi đất bùn mà ra.
6Ecce, et me sicut et te fecit Deus, et de eodem luto ego quoque formatus sum.
7Sự oai nghi tôi nào sẽ làm cho ông kinh khiếp, Và quyền thế tôi sẽ chẳng đè ép ông.
7Verumtamen miraculum meum non te terreat, et eloquentia mea non sit tibi gravis.
8Quả ông có nói đến tai tôi, Tôi đã nghe tiếng lời của ông nói rằng:
8Dixisti ergo in auribus meis, et vocem verborum tuorum audivi:
9Tôi trong sạch, không có vi phạm; Tôi vô tội, và trong lòng tôi chẳng có gian ác gì.
9Mundus sum ego, et absque delicto: immaculatus, et non est iniquitas in me.
10Dầu vậy, Đức Chúa Trời tìm dịp đối địch tôi, Cầm tôi như kẻ thù nghịch Ngài;
10Quia querelas in me reperit, ideo arbitratus est me inimicum sibi.
11Ngài riết chân tôi vào cùm, Và coi chừng đường lối tôi.
11Posuit in nervo pedes meos; custodivit omnes semitas meas.
12Nầy, tôi muốn đáp với ông rằng trong các lời ấy ông nói vô lý; Vì Đức Chúa Trời là lớn hơn loài người.
12Hoc est ergo in quo non es justificatus: respondebo tibi, quia major sit Deus homine.
13Nhân sao ông tranh luận với Ngài? Ngài không bày giãi điều nào Ngài làm.
13Adversus eum contendis, quod non ad omnia verba responderit tibi?
14Vì Đức Chúa Trời phán một lần, Hoặc hai lần; nhưng người ta không để ý đến.
14Semel loquitur Deus, et secundo idipsum non repetit.
15Ngài phán trong chiêm bao, trong dị tượng ban đêm, Lúc người ta ngủ mê, Nằm ngủ trên giường mình;
15Per somnium, in visione nocturna, quando irruit sopor super homines, et dormiunt in lectulo,
16Bấy giờ Ngài mở lỗ tai loài người, Niêm phong lời giáo huấn mà Ngài dạy cho họ,
16tunc aperit aures virorum, et erudiens eos instruit disciplina,
17Hầu cho loài nguời khỏi điều họ toan làm, Và giấu họ tánh kiêu ngạo,
17ut avertat hominem ab his quæ facit, et liberet eum de superbia,
18Cứu linh hồn họ khỏi cái huyệt, Và mạng sống khỏi bị gươm giết,
18eruens animam ejus a corruptione, et vitam illius ut non transeat in gladium.
19Loài người nằm trên giường mình bị đau đớn sửa phạt, Và xương cốt người hàng tranh chạm nhau mãi mãi,
19Increpat quoque per dolorem in lectulo, et omnia ossa ejus marcescere facit.
20Miệng người bèn lấy làm gớm ghiếc vật thực, Và linh hồn người ghét những đồ ăn mĩ vị.
20Abominabilis ei fit in vita sua panis, et animæ illius cibus ante desiderabilis.
21Thịt người bị tiêu hao không còn thấy nữa, Và xương người, mà trước chẳng thấy được, bèn bị lộ ra.
21Tabescet caro ejus, et ossa, quæ tecta fuerant, nudabuntur.
22Linh hồn người đến gần cái hầm, Và sự sống người xích lại kẻ giết.
22Appropinquavit corruptioni anima ejus, et vita illius mortiferis.
23Nếu trong một ngàn thiên sứ, có một thiên sứ làm kẻ truyền-giải cho người, Để chỉ dạy người biết điều ngay thẳng cho người,
23Si fuerit pro eo angelus loquens, unus de millibus, ut annuntiet hominis æquitatem,
24Aét Đức Chúa Trời làm ơn cho người và phán rằng: “Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống cái hầm; Ta đã tìm đặng giá cứu chuộc rồi”
24miserebitur ejus, et dicet: Libera eum, ut non descendat in corruptionem: inveni in quo ei propitier.
25Người sẽ được thẳng da mát thịt như buổi thơ ấu; Người trở lại ngày đang thì.
25Consumpta est caro ejus a suppliciis: revertatur ad dies adolescentiæ suæ.
26Người cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời bèn đoái thương người, Khiến người vui mừng xem thấy mặt Ngài, Và Ngài trả lại sự công bình cho người.
26Deprecabitur Deum, et placabilis ei erit: et videbit faciem ejus in jubilo, et reddet homini justitiam suam.
27Đoạn, người đó sẽ hát trước mặt loài người, mà rằng: “Tôi đã phạm tội, làm hư hoại sự ngay thẳng, Song chẳng có ích gì cho tôi.
27Respiciet homines, et dicet: Peccavi, et vere deliqui, et ut eram dignus, non recepi.
28Đức Chúa Trời có giải cứu linh hồn tôi khỏi sa xuống hầm, Và sự sống tôi sẽ thấy ánh sáng.”
28Liberavit animam suam, ne pergeret in interitum, sed vivens lucem videret.
29Kìa, các việc ấy Đức Chúa Trời làm cho loài người; Đến hai lần, hoặc ba lần,
29Ecce hæc omnia operatur Deus tribus vicibus per singulos,
30Đặng khiến linh hồn người trở lại khỏi cái hầm, Hầu cho người được ánh sáng kẻ sống chiếu vào cho.
30ut revocet animas eorum a corruptione, et illuminet luce viventium.
31Hỡi Gióp, hãy chăm chỉ nghe tôi; Khá làm thinh, thì tôi sẽ nói.
31Attende, Job, et audi me: et tace, dum ego loquor.
32Nếu ông có điều gì muốn nói, hãy đáp lại tôi; Khá nói, vì tôi muốn xưng ông là công bình.
32Si autem habes quod loquaris, responde mihi: loquere, volo enim te apparere justum.
33Bằng chẳng, hãy nghe tôi; Hãy làm thinh, thì tôi sẽ dạy cho ông sự khôn ngoan.
33Quod si non habes, audi me: tace, et docebo te sapientiam.]

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.