Gióp
Chapter 8
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Clementine Vulgate…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Binh-đát, người Su-a, bèn đáp lời, mà rằng:
1Respondens autem Baldad Suhites, dixit:
2Oâng sẽ nói các điều ấy đến bao giờ, Và lời của miệng ông sẽ giống như gió bão đến chừng nào?
2[Usquequo loqueris talia, et spiritus multiplex sermones oris tui?
3Đức Chúa Trời há thiên đoán ư? Đấng toàn năng há trái phép công bình sao?
3Numquid Deus supplantat judicium? aut Omnipotens subvertit quod justum est?
4Nếu con cái ông có phạm tội cùng Ngài, Thì Ngài đã phó chúng nó vào quyền tội ác của chúng nó.
4Etiam si filii tui peccaverunt ei, et dimisit eos in manu iniquitatis suæ:
5Nếu ông cẩn thận tìm kiếm Đức Chúa Trời, Cầu khẩn cùng Đấng toàn năng,
5tu tamen si diluculo consurrexeris ad Deum, et Omnipotentem fueris deprecatus;
6Nếu ông thanh sạch và ngay thẳng, Quả thật bây giờ Ngài sẽ tỉnh thức vì ông, Và làm cho nhà công bình ông được hưng thạnh.
6si mundus et rectus incesseris: statim evigilabit ad te, et pacatum reddet habitaculum justitiæ tuæ,
7Dẫu ban sơ ông vốn nhỏ mọn, Thì sau rốt sẽ nên trọng đại.
7in tantum ut si priora tua fuerint parva, et novissima tua multiplicentur nimis.
8Xin hãy hỏi dòng dõi đời xưa, Khá chăm chỉ theo sự tìm tòi của các tổ tiên.
8Interroga enim generationem pristinam, et diligenter investiga patrum memoriam
9(Vì chúng ta mới có hôm qua, và chẳng biết gì; Bởi các ngày chúng ta trên đất khác nào một cái bóng);
9(hesterni quippe sumus, et ignoramus, quoniam sicut umbra dies nostri sunt super terram),
10Chớ thì chúng sẽ chẳng dạy ông, nói chuyện với ông, Và do nơi lòng mình mà đem ra những lời lẽ sao?
10et ipsi docebunt te, loquentur tibi, et de corde suo proferent eloquia.
11Sậy há mọc nơi chẳng bưng bàu ư? Lác há mọc lên không có nước sao?
11Numquid vivere potest scirpus absque humore? aut crescere carectum sine aqua?
12Khi còn xanh tươi chưa phải phát, Thì đã khô trước các thứ cỏ khác.
12Cum adhuc sit in flore, nec carpatur manu, ante omnes herbas arescit.
13Đường lối kẻ quên Đức Chúa Trời là như vậy: Sự trông cậy kẻ không kính sợ Đức Chúa Trời sẽ hư mất;
13Sic viæ omnium qui obliviscuntur Deum, et spes hypocritæ peribit.
14Nơi người nương nhờ sẽ bị truất, Điều người tin cậy giống như váng nhện.
14Non ei placebit vecordia sua, et sicut tela aranearum fiducia ejus.
15Người ấy nương dựa vào nhà mình, song nhà không vững chắc; Người níu lấy nó, nhưng nó chẳng đứng chịu nổi.
15Innitetur super domum suam, et non stabit; fulciet eam, et non consurget.
16Trước mặt trời, nó xanh tươi. Nhành lá che phủ vườn nó.
16Humectus videtur antequam veniat sol, et in ortu suo germen ejus egredietur.
17Rễ nó quấn trên đống đá, Nó mọc xỉa ra giữa đá sỏi;
17Super acervum petrarum radices ejus densabuntur, et inter lapides commorabitur.
18Nếu nó bị nhổ khỏi chỗ nó, Thì chỗ ấy bèn từ chối nó, mà rằng: Ta chẳng hề thấy ngươi!
18Si absorbuerit eum de loco suo, negabit eum, et dicet: Non novi te.
19Kìa, ấy là sự vui sướng về đường lối nó; Sẽ có loài khác từ đất nảy ra.
19Hæc est enim lætitia viæ ejus, ut rursum de terra alii germinentur.
20Kìa, Đức Chúa Trời chẳng từ bỏ người trọn vẹn, Cũng không giúp đỡ kẻ hung ác.
20Deus non projiciet simplicem, nec porriget manum malignis,
21Song Chúa sẽ còn làm cho miệng ông được đầy vui cười; Và môi ông tràn ra tiếng reo mừng.
21donec impleatur risu os tuum, et labia tua jubilo.
22Những kẻ ghét ông sẽ bị hổ thẹn bao phủ, Và nhà trại của kẻ ác sẽ chẳng còn.
22Qui oderunt te induentur confusione, et tabernaculum impiorum non subsistet.]

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.