Gióp 29
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Clementine Vulgate, 1598
1Gióp cứ nói lẽ luận cao mình, mà rằng:
1Addidit quoque Job, assumens parabolam suam, et dixit:
2Oâi! Ước gì tôi được như buổi trước, Như trong các ngày mà Đức Chúa Trời gìn giữ tôi;
2[Quis mihi tribuat ut sim juxta menses pristinos, secundum dies quibus Deus custodiebat me?
3Khi ngọn đuốc Chúa soi trên đầu tôi; Và nhờ ánh sáng Ngài, tôi bước qua sự tối tăm.
3Quando splendebat lucerna ejus super caput meum, et ad lumen ejus ambulabam in tenebris:
4Chớ chi tôi được như lúc còn tráng kiệt, Khi tình thiệt hữu của Đức Chúa Trời còn đoái đến trại tôi;
4sicut fui in diebus adolescentiæ meæ, quando secreto Deus erat in tabernaculo meo:
5Khi Đấng Toàn năng còn ở cùng tôi, Và các con cái tôi vây quanh tôi;
5quando erat Omnipotens mecum, et in circuitu meo pueri mei:
6Lúc tôi rửa chân trong sữa, Và hòn đá phun suối dầu ra cho tôi!
6quando lavabam pedes meos butyro, et petra fundebat mihi rivos olei:
7Khi tôi đi ra đến cửa thành, Sửa soạn chỗ ngồi mình tại phố chợ,
7quando procedebam ad portam civitatis, et in platea parabant cathedram mihi.
8Các gã trai trẻ thấy tôi bèn ẩn đi, Và các người già cả đều chổi dậy và đứng;
8Videbant me juvenes, et abscondebantur: et senes assurgentes stabant.
9Những quan trưởng kiêng nói, Và lấy tay bụm miệng;
9Principes cessabant loqui, et digitum superponebant ori suo.
10Tiếng người tước vị nín thinh, Và lưỡi họ dính nơi ổ gà.
10Vocem suam cohibebant duces, et lingua eorum gutturi suo adhærebat.
11Khi tai ai nghe tôi, bèn xưng tôi có phước, Mắt ai thấy tôi, bèn làm chứng cho tôi.
11Auris audiens beatificabat me, et oculus videns testimonium reddebat mihi:
12Aáy vì tôi giải cứu kẻ khốn cùng kêu cầu, Và kẻ mồ côi không ai giúp đỡ.
12eo quod liberassem pauperem vociferantem, et pupillum cui non esset adjutor.
13Kẻ gần chết chúc phước cho tôi, Và tôi làm cho lòng người góa bụa nức nở vui mừng.
13Benedictio perituri super me veniebat, et cor viduæ consolatus sum.
14Tôi mặc lấy sự công bình, và nó che phủ tôi, Sự ngay thẳng tôi khác nào áo ngoài và mão triều thiên.
14Justitia indutus sum, et vestivi me, sicut vestimento et diademate, judicio meo.
15Tôi đã như con mắt cho kẻ mù, Và như chân cho kẻ què.
15Oculus fui cæco, et pes claudo.
16Tôi đã làm cha cho kẻ nghèo khó, Còn duyên cớ của kẻ lạ, tôi tra xét cho rõ ràng.
16Pater eram pauperum, et causam quam nesciebam diligentissime investigabam.
17Tôi bẻ gẫy hàm kẻ bất công, Và rứt mồi nó ngậm nơi răng.
17Conterebam molas iniqui, et de dentibus illius auferebam prædam.
18Tôi bèn nói rằng: Ta sẽ thác trong ổ của ta; Ngày ta sẽ nhiều như hột cát;
18Dicebamque: In nidulo meo moriar, et sicut palma multiplicabo dies.
19Rễ ta bò ăn dài theo nước, Và cả đêm sương đọng trên nhành ta.
19Radix mea aperta est secus aquas, et ros morabitur in messione mea.
20Vinh hiển ta mới mẻ với ta luôn, Cung ta được cứng mạnh lại trong tay ta.
20Gloria mea semper innovabitur, et arcus meus in manu mea instaurabitur.
21Người ta lắng tai nghe tôi, chờ đợi, Và làm thinh đặng nghe lời tôi bàn.
21Qui me audiebant, expectabant sententiam, et intenti tacebant ad consilium meum.
22Sau khi tôi nói, chúng không còn đáp lại; Lời tôi nói gội nhuần trên chúng (như sương).
22Verbis meis addere nihil audebant, et super illos stillabat eloquium meum.
23Họ trông đợi tôi như trông đợi mưa, Hả miệng ra dường như vua tại giữa quân đội, Khác nào một kẻ an ủi những người sầu.
23Expectabant me sicut pluviam, et os suum aperiebant quasi ad imbrem serotinum.
24Tôi mỉn cười với chúng, khi chúng bị ngã lòng; Họ chẳng hề làm rối nét mặt bình tịnh tôi được.
24Siquando ridebam ad eos, non credebant: et lux vultus mei non cadebat in terram.
25Tôi chọn con đường cho chúng, và ngồi làm đầu họ. ỳ như vua tại giữu quân đội, Khác nào một kẻ an ủy những người sầu.
25Si voluissem ire ad eos, sedebam primus: cumque sederem quasi rex, circumstante exercitu, eram tamen mœrentium consolator.]
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.