Gióp
Chapter 24
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Daničić–Karadžić B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Nhân vì Đấng Toàn năng đã định kỳ phạt ác, Cớ sao Ngài không khiến kẻ nhận biết Ngài được thấy ngày ấy?
1Зашто Свемогућем нису сакривена времена? И који Га знају, не виде дана Његових?
2Có người dời sụt mộc giới, Aên cắp bầy chiên, rồi dẫn cho ăn.
2Међе помичу безбожни, отимају стадо и пасу;
3Chúng cướp dẫn lừa của kẻ mồ côi, Lấy bò của người góa bụa làm của cầm.
3Магарца сиротама одгоне; у залогу узимају вола удовици;
4Chúng khiến kẻ nghèo lìa bỏ đường chánh đáng, Kẻ khốn cùng của thế gian đồng nhau đi ẩn tránh.
4Сиромахе одбијају с пута; убоги у земљи крију се сви.
5Kìa, vừa sớm mai chúng đi ra làm công việc mình, Tìm lương thực mình, như lừa rừng nơi đồng vắng; Đồng vắng cấp thực vật cho con cái chúng nó.
5Гле, као дивљи магарци у пустињи излазе на посао свој устајући рано на плен; пустиња је храна њима и деци њиховој.
6Chúng nó thâu góp rơm cỏ tại trong đồng ruộng, Mót trái nho trong vườn nho của kẻ làm ác.
6Жању њиву и беру виноград који није њихов;
7Trọn đêm chúng nó nằm trần truồng không quần áo, Và chẳng có mền đắp khỏi lạnh.
7Гола нагоне да ноћује без хаљине, који се немају чим покрити по зими,
8Chúng nó bị dầm mưa núi, Không nơi đụt, bèn nép mình vào hòn đá.
8Окисли од пљуска у гори, немајући заклона, привијају се к стени.
9Có người cướp kẻ mồ côi cha còn bú; Bắt thế chưng áo trên mình kẻ nghèo;
9Грабе сироче од дојке и са сиромаха скидају залог.
10Đến đỗi người nghèo phải đi trần không áo, Vác những bó lúa, mà bị đói.
10Голог остављају да иде без хаљине, и оне који носе снопове да гладују.
11Chúng ép dầu trong kho chủ mình, Đạp trái nho nơi thùng, mà bị khát.
11Који међу њиховим зидовима уље цеде и грожђе у кацама газе, подносе жеђ.
12Từ trong thành nổi lên tiếng thở than của người ta, Linh hồn kẻ bị thương kêu van; Song Đức Chúa Trời không kể đến tội ác vẫn phạm tại đó.
12Људи у граду уздишу, и душе побијених вичу, а Бог не укида то.
13Cũng có kẻ khác thù nghịch với ánh sáng; Không biết đạo của ánh sáng, Và chẳng đi trong con đường nó.
13Они се противе светлости, не знају за путеве њене и не стају на стазама њеним.
14Vừa rạng ngày kẻ giết người chổi dậy, Giết kẻ nghèo khổ và túng cùng; Còn ban đêm nó như kẻ trộm.
14Зором устајући крвник убија сиромаха и убогог; а ноћу је као лупеж.
15Mắt kẻ hành dâm cũng trông ngóng khi chập tối, Mà nói rằng: “Chẳng một mắt ai sẽ thấy tôi”, Và nó che kín mặt mình.
15И око курварово пази на сумрак говорећи: Да ме око не види. И сакрива лице.
16Đang đêm tối tăm chúng nó khoét nhà, Ban ngày lại rút ẩn mất; Chúng nó chẳng biết ánh sáng.
16Прокопавају по мраку куће, које обдан себи забележе; не знају за светлост.
17Buổi sáng vốn là bóng chết cho chúng nó thay thảy, Vì chúng nó biết sự kinh hãi về bóng sự chết,
17Јер је зора њима свима сен смртни; ако их ко позна, страх их је сена смртног.
18Chúng nó qua chong chóng như vật nhẹ trôi nơi mặt nước; Phần nghiệp họ bị rủa sả tại trên đất; Chẳng còn trở về lối vườn nho nữa.
18Брзи су као поврх воде, проклет је део њихов на земљи; неће видети пута виноградског.
19Sự khô hạn và sự nắng tiêu tan nước tuyết đi; âm phủ cũng làm như vậy cho những kẻ có tội.
19Као што суша и врућина граби воде снежне, тако гроб грешнике.
20Lòng mẹ sẽ quên chúng nó đi; Các sâu bọ ăn ngon chúng nó; Người ta không còn nhớ họ nữa; Và sự gian ác sẽ bị bẻ gẫy ra như cây cối.
20Заборавља их утроба материна, слатки су црвима, не спомињу се више; као дрво скршиће се неправедник.
21Chúng nó cướp giựt người đàn bà son sẻ, không sanh con, Chẳng làm điều lành cho người góa bụa.
21Здружује с њим нероткињу која не рађа, и удовици не чини добра.
22Song Đức Chúa Trời lấy quyền năng Ngài mà bảo toàn người thế lực; Ngài đỡ lên kẻ hết trông được bảo tồn mạng sống mình.
22Граби јаке својом силом; остане ли који, не узда се у живот свој.
23Đức Chúa Trời ban cho chúng sự vững vàng, chúng nương cậy nơi sự ấy; Nhưng con mắt Ngài coi chừng đường lối của chúng.
23Да му Бог да у шта ће се поуздати; али очи Његове пазе на њихове путе.
24Chúng được cao trọng; đoạn một ít lâu, chẳng còn nữa. Chúng ngã xuống, bị cất đem đi như mọi người khác; Họ bị cắt như ngọn gié lúa vậy.
24Узвисе се за мало, па их нема; падају и гину као сви други, и као врх од класа одсецају се.
25Nếu điều đó chẳng vậy, ai bắt lẽ tôi nói dối, Và diệt lời giảng luận tôi ra hư không?
25Није ли тако? Ко ће ме утерати у лаж и обратити у ништа речи моје?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.