Gióp
Chapter 21
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Daničić–Karadžić B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Gióp đáp rằng:
1А Јов одговори и рече:
2Hãy nghe kỹ càng lời giảng luận tôi; Thì điều đó sẽ thế cho sự an ủi của các bạn.
2Слушајте добро речи моје, и то ће ми бити од вас утеха.
3Hãy nhịn nhục tôi, để tôi nói: Sau khi tôi đã nói, các bạn hãy cứ nhạo báng đi.
3Потрпите ме да ја говорим, а кад изговорим, подсмевајте ми се.
4Còn về phần tôi, than van tôi há hướng về loài người sao? Nhân sao trí tôi không hết nhịn nhục?
4Еда ли се ја човеку тужим? И како не би био жалостан дух мој?
5Hãy xem xét tôi, và lấy làm lạ; Khá lấy tay bụm miệng mình.
5Погледајте на ме, и дивите се, и метните руку на уста.
6Khi nào tôi nhớ lại, tôi bèn bị kinh hoảng, Rởn óc cả và thịt tôi.
6Ја кад помислим, страх ме је, и гроза подузима тело моје.
7Cớ sao kẻ gian ác sống, Trở nên già cả và quyền thế cường thạnh?
7Зашто безбожници живе? Старе? И богате се?
8Dòng dõi chúng nó thành lập có mắt chúng nó thấy, Và con cháu họ ở trước mặt họ.
8Семе њихово стоји тврдо пред њима заједно с њима, и натражје њихово пред њиховим очима.
9Nhà của chúng nó được bình yên, không sợ gì, Roi của Đức Chúa trời chẳng đánh mình chúng nó.
9Куће су њихове на миру без страха, и прут Божји није над њима.
10Bò đực chúng nó sanh sảnh không hề thiếu kém, Bò cái họ sanh đẻ không có sảo.
10Бикови њихови скачу, и не промашују; краве њихове теле се, и не јалове се.
11Chúng nó cho các đứa trẻ mình đi ra như một bầy chiên, Và con cái họ giỡn chơi nhau.
11Испуштају као стадо децу своју, и синови њихови поскакују.
12Hát múa theo tiếng trống nhỏ và đàn cầm, Và vui mừng theo tiếng kèn sáo.
12Подвикују уз бубањ и уз гусле, веселе се уза свиралу.
13Chúng nó may mắn trải qua các ngày đời mình, Rồi bỗng chốc sa xuống âm phủ.
13Проводе у добру дане своје, и за час силазе у гроб.
14Chúng nó nói với Đức Chúa Trời rằng: “Ngài hãy lìa xa chúng tôi, Vì chúng tôi không muốn biết đạo của Ngài.”
14А Богу кажу: Иди од нас, јер нећемо да знамо за путеве твоје.
15Đấng Toàn năng là chi, mà chúng tôi phải phục sự Ngài? Nếu chúng tôi cầu khẩn Ngài thì được ích gì?
15Шта је свемогући да му служимо? И каква нам је корист, да му се молимо?
16Kìa sự may mắn chúng nó chẳng ở nơi tay chúng nó: Các mưu chước kẻ ác cách xa tôi.
16Гле, добро њихово није у њиховој руци; намера безбожничка далеко је од мене.
17Cái đèn kẻ ác tắt, Tai họa giáng trên chúng nó, Và trong cơn thạnh nộ, Đức Chúa Trời phân phát đau đớn cho chúng nó, Điều đó há có thường xảy đến sao?
17Колико се пута гаси жижак безбожнички и долази им погибао, дели им муке у делу свом Бог?
18Há năng xảy ra chúng nó phải như rơm trước gió, Như trấu bị bão cất đi sao?
18Бивају као плева на ветру, као прах који разноси вихор?
19Các bạn nói rằng: Đức Chúa Trời dành sự hình phạt về hung ác nó cho con cái nó. Đức Chúa Trời khá báo cho chính mình nó, để nó biết:
19Чува ли Бог синовима његовим погибао њихову, плаћа им да осете?
20Khá chính con mắt hắn xem thấy điều hư hoại mình, Và uống được sự thạnh nộ của Đấng Toàn năng.
20Виде ли својим очима погибао своју, и пију ли гнев Свемогућег?
21Vì khi số ngày định cho nó đã hết rồi, Nó nào kể chi đến gia quyến sau nó?
21Јер шта је њима стало до куће њихове након њих, кад се број месеца њихових прекрати?
22Đức Chúa Trời xét đoán những người cao vị; Vậy, người ta há sẽ dạy tri thức cho Ngài sao?
22Еда ли ће Бога ко учити мудрости, који суди високима?
23Kẻ nầy thác giữa chừng mạnh mẽ, Được thanh nhàn và bình an mọi bề;
23Један умире у потпуној сили својој, у миру и у срећи.
24Hai bình người đầy sữa, Và tủy xương người nhuần đượm.
24Музилице су му пуне млека, и кости су му влажне од мождина.
25Kẻ khác lại chết giữa chừng cay đắng linh hồn, Chẳng hề được nếm điều phước hạnh gì hết.
25А други умире ојађене душе, који није уживао добра.
26Cả hai đều nằm chung trong bụi đất, Giòi sâu che lấp họ.
26Обојица леже у праху, и црви их покривају.
27Nầy, tôi biết ý tưởng các bạn, Cùng các mưu kế các bạn toan dùng đặng tàn hại tôi.
27Ето, знам ваше мисли и судове, којима ми чините криво.
28Vì các bạn nói rằng: “Nhà kẻ cường bạo ở đâu? Trại kẻ ác ở nơi nào?”
28Јер говорите: Где је кућа силног, и где је шатор у коме наставају безбожници?
29Chớ thì các bạn chẳng hề hỏi khách qua đường sao? Há chẳng nhờ chứng cớ của họ mà nhìn biết rằng,
29Нисте ли никад питали путника? И шта вам казаше нећете да знате,
30Trong ngày tai họa, kẻ hung ác được khỏi, Và trong ngày thạnh nộ, nó được thoát?
30Да се на дан погибли оставља задац, кад се пусти гнев.
31Tại trước mặt hắn, ai dám trách hắn vì tánh hạnh hắn? Ai sẽ báo ứng điều hắn đã làm?
31Ко ће га укорити у очи за живот његов? И ко ће му вратити шта је учинио?
32Nó sẽ được đưa đến huyệt mả, Và người ta sẽ canh giữ phần mộ nó.
32Али се износи у гробље и остаје у гомили.
33Các cục đất của trũng lấy làm êm dịu cho nó; Mọi người đều đi noi theo, Và kẻ đi trước thì vô số.
33Слатке су му груде од долине, и вуче за собом све људе, а онима који га претекоше нема броја.
34Vậy, sao các bạn an ủi tôi vô ích dường ấy? Vì những câu đáp của các bạn chỉ còn sự bất trung mà thôi.
34Како ме, дакле, напразно тешите кад у одговорима вашим остаје превара?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.