Gióp
Chapter 3
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Daničić–Karadžić B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Sau việc ấy, Gióp mở miệng rủa ngày sanh mình.
1Потом отвори уста своја Јов и стаде клети дан свој.
2Gióp bèn cất tiếng nói rằng:
2И проговоривши Јов рече:
3Ngày ta đã sanh ra, khá hư mất đi; Còn đêm đã nói rằng: Có được thai dựng một con trai, hãy tiêu diệt đi!
3Не било дана у који се родих, и ноћи у којој рекоше: Роди се детић!
4Nguyện ngày ấy bị ra tăm tối! Nguyện Đức Chúa Trời từ trên cao chớ thèm kể đến, Và ánh sáng đừng chiếu trên nó!
4Био тај дан тама, не гледао га Бог озго, и не осветљавала га светлост!
5Chớ gì tối tăm và bóng sự chết nhìn nhận nó, Aùng mây kéo phủ trên nó, Và nhựt thực làm cho nó kinh khiếp.
5Мрак га запрзнио и сен смртни, облак га обастирао, био страшан као најгори дани!
6Nguyện sự tối tăm mịt mịt hãm lấy đêm ấy; Chớ cho nó đồng lạc với các ngày của năm; Đừng kể nó vào số của các tháng!
6Ноћ ону освојила тама, не радовала се међу данима годишњим, не бројала се у месеце!
7Phải, nguyện cho đêm ấy bị son sẻ; Tiếng vui cười chớ vang ra trong khoảng nó!
7Гле, ноћ она била пуста, певања не било у њој!
8Ai hay rủa sả ngày, và có tài chọc Lê-vi-a-than dậy, Hãy rủa sả nó!
8Клели је који куну дане, који су готови пробудити крокодила!
9Nguyện sao chạng vạng đêm ấy phải tối tăm; Nó mong ánh sáng, mà ánh sáng lại chẳng có, Chớ cho nó thấy rạng đông mở ra!
9Потамнеле звезде у сумрачје њено, чекала видело и не дочекала га, и не видела зори трепавица;
10Bởi vì đêm ấy không bế cửa lòng hoài thai ta, Chẳng có giấu sự đau đớn khỏi mắt ta.
10Што ми није затворила врата од утробе и није сакрила муку од мојих очију.
11Nhân sao tôi chẳng chết từ trong tử cung? Nhân sao không tắt hơi khi lọt lòng mẹ.?
11Зашто не умрех у утроби? Не издахнух излазећи из утробе?
12Cớ sao hai đầu gối đỡ lấy tôi, Và vú để cho tôi bú?
12Зашто ме прихватише колена? Зашто сисе, да сем?
13Bằng chẳng vậy, bây giờ ắt tôi đã nằm an tịnh, Được ngủ và nghỉ ngơi
13Јер бих сада лежао и почивао; спавао бих, и био бих миран,
14Cùng các vua và mưu sĩ của thế gian, Đã cất mình những lăng tẩm;
14С царевима и саветницима земаљским, који зидаше себи пустолине,
15Hoặc với các quan trưởng có vàng, Và chất bạc đầy cung điện mình.
15Или с кнезовима, који имаше злата, и куће своје пунише сребра.
16Hoặc tôi chẳng hề có, như một thai sảo biệt tăm, Giống các con trẻ không thấy ánh sáng.
16Или зашто не бих као недоношче сакривено, као дете које не угледа видела?
17ỳ đó kẻ hung ác thôi rày rạc, Và các người mỏn sức được an nghỉ;
17Онде безбожници престају досађивати, и онде почивају изнемогли,
18ỳ đó những kẻ bị tù đồng nhau được bình tịnh, Không còn nghe tiếng của kẻ hà hiếp nữa.
18И сужњи се одмарају и не чују глас настојников.
19Tại nơi ấy nhỏ và lớn đều ở cùng nhau, Và kẻ tôi mọi được phóng khỏi ách chủ mình.
19Мали и велики онде је, и роб слободан од свог господара.
20Cớ sao ban ánh sáng cho kẻ hoạn nạn, Và sanh mạng cho kẻ có lòng đầy đắng cay?
20Зашто се даје видело невољнику и живот онима који су тужног срца,
21Người như thế mong chết, mà lại không được chết; Cầu thác hơn là tìm kiếm bửu vật giấu kín;
21Који чекају смрт а ње нема, и траже је већма него закопано благо,
22Khi người ấy tìm được mồ mả, Thì vui vẻ và nức lòng mừng rỡ thay,
22Који играју од радости и веселе се кад нађу гроб?
23Người nào không biết đường mình phải theo, Và bị Đức Chúa Trời vây bọc bốn bên, sao lại được sự sống?
23Човеку, коме је пут сакривен и ког је Бог затворио одсвуда?
24Vì trước khi ăn, tôi đã than siếc, Tiếng kêu vang tôi tuôn tôi như nước.
24Јер пре јела мог долази уздах мој, и као вода разлива се јаук мој.
25Vì việc tôi sợ hãi đã thấu đến tôi; Điều tôi kinh khủng lại xảy ra cho tôi.
25Јер чега се бојах дође на мене, и чега се страшах задеси ме.
26Tôi chẳng được an lạc, chẳng được bình tịnh, chẳng được an nghỉ; Song nỗi rối loạn đã áp đến!
26Не почивах нити имах мира нити се одмарах, и опет дође страхота.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.