Gióp 21
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Gióp đáp rằng:
1І відказав Йов і промовив:
2Hãy nghe kỹ càng lời giảng luận tôi; Thì điều đó sẽ thế cho sự an ủi của các bạn.
2Вислухайте ж уважно й мою річ, а се буде моя потїха від вас.
3Hãy nhịn nhục tôi, để tôi nói: Sau khi tôi đã nói, các bạn hãy cứ nhạo báng đi.
3Потерпіть менї, а я буду говорити; а тодї вже, як виговорюсь, насьмівайтесь.
4Còn về phần tôi, than van tôi há hướng về loài người sao? Nhân sao trí tôi không hết nhịn nhục?
4Чи то ж до чоловіка вимірена бесїда моя? та й як менї не впадати духом?
5Hãy xem xét tôi, và lấy làm lạ; Khá lấy tay bụm miệng mình.
5Гляньте на мене й вжахнїтесь, та затулїть пальцем уста ваші.
6Khi nào tôi nhớ lại, tôi bèn bị kinh hoảng, Rởn óc cả và thịt tôi.
6Я тілько спогадаю, а вже здрогаюсь, і страх обгортає тїло моє.
7Cớ sao kẻ gian ác sống, Trở nên già cả và quyền thế cường thạnh?
7Чим воно дїєсь, що ледачі живуть, доживають старостї, та й силами здорові?
8Dòng dõi chúng nó thành lập có mắt chúng nó thấy, Và con cháu họ ở trước mặt họ.
8Дїти їх вкупі з ними перед лицем їх, та й внуки їх перед очима в їх.
9Nhà của chúng nó được bình yên, không sợ gì, Roi của Đức Chúa trời chẳng đánh mình chúng nó.
9Доми їх безпечні від страху, і нема бича Божого над ними.
10Bò đực chúng nó sanh sảnh không hề thiếu kém, Bò cái họ sanh đẻ không có sảo.
10Бик їх заплоднює й не знемогає, корова їх починає й не скидає.
11Chúng nó cho các đứa trẻ mình đi ra như một bầy chiên, Và con cái họ giỡn chơi nhau.
11Стадом випускають вони малечу свою, й дїти їх скачуть.
12Hát múa theo tiếng trống nhỏ và đàn cầm, Và vui mừng theo tiếng kèn sáo.
12Висьпівують під бубон і цитру, та веселяться, граючи в сопілку;
13Chúng nó may mắn trải qua các ngày đời mình, Rồi bỗng chốc sa xuống âm phủ.
13Вони проводять днї свої в щастю, й в хвилцї (без муки) сходять у глибину (земну).
14Chúng nó nói với Đức Chúa Trời rằng: “Ngài hãy lìa xa chúng tôi, Vì chúng tôi không muốn biết đạo của Ngài.”
14А між тим вони говорять Богу: йди геть від нас, не хочемо знати доріг (законів) твоїх!
15Đấng Toàn năng là chi, mà chúng tôi phải phục sự Ngài? Nếu chúng tôi cầu khẩn Ngài thì được ích gì?
15Хто такий Вседержитель, щоб нам йому служити? Що з того за користь, до його молитись?
16Kìa sự may mắn chúng nó chẳng ở nơi tay chúng nó: Các mưu chước kẻ ác cách xa tôi.
16Бачиш, щастє їх не з їх рук. — Та рада безбожних нехай буде далека від мене!
17Cái đèn kẻ ác tắt, Tai họa giáng trên chúng nó, Và trong cơn thạnh nộ, Đức Chúa Trời phân phát đau đớn cho chúng nó, Điều đó há có thường xảy đến sao?
17Або може часто гасне у беззаконних сьвітич, і находить на них біда; чи часто дає він (Бог) на їх пай муки в гнїву свойму?
18Há năng xảy ra chúng nó phải như rơm trước gió, Như trấu bị bão cất đi sao?
18Вони ж повинні б бути, наче та солімка перед вітром, наче полова, гонена вихром!
19Các bạn nói rằng: Đức Chúa Trời dành sự hình phạt về hung ác nó cho con cái nó. Đức Chúa Trời khá báo cho chính mình nó, để nó biết:
19(Скажеш:) Бог держить дїтям його нещастє його. — (Нї,) Нехай він відплатить йому самому, щоб він те знав.
20Khá chính con mắt hắn xem thấy điều hư hoại mình, Và uống được sự thạnh nộ của Đấng Toàn năng.
20Нехай би його таки очі побачили горе своє, й нехай би він самий пив із гнїву Вседержителя.
21Vì khi số ngày định cho nó đã hết rồi, Nó nào kể chi đến gia quyến sau nó?
21Бо й яка ж йому жура про дом свій після нього, як місяцїв його лїк закінчився?
22Đức Chúa Trời xét đoán những người cao vị; Vậy, người ta há sẽ dạy tri thức cho Ngài sao?
22Але чи ж то нам Бога вчити мудростї, коли він судить і тих, що горі (в небі)?
23Kẻ nầy thác giữa chừng mạnh mẽ, Được thanh nhàn và bình an mọi bề;
23Один умірає в повнотї сил своїх, в повному спокої та мирі;
24Hai bình người đầy sữa, Và tủy xương người nhuần đượm.
24Нутро його повне товщі, а костї в його, неначе напоєні шпігом.
25Kẻ khác lại chết giữa chừng cay đắng linh hồn, Chẳng hề được nếm điều phước hạnh gì hết.
25Другий же вмірає в гіркостї душі, не дознавши добра.
26Cả hai đều nằm chung trong bụi đất, Giòi sâu che lấp họ.
26А таки вони вкупі лежати муть в землї, й черви покриють їх.
27Nầy, tôi biết ý tưởng các bạn, Cùng các mưu kế các bạn toan dùng đặng tàn hại tôi.
27Знаю я, які в вас думки та хитрощі, що проти мене сплїтаєте.
28Vì các bạn nói rằng: “Nhà kẻ cường bạo ở đâu? Trại kẻ ác ở nơi nào?”
28Ви скажете: Де дом князя, а де шатро, що в йому жили проступники?
29Chớ thì các bạn chẳng hề hỏi khách qua đường sao? Há chẳng nhờ chứng cớ của họ mà nhìn biết rằng,
29Хиба ж ви не питали в тих, що в дорозї бували, та й не знаєте їх постерігань?
30Trong ngày tai họa, kẻ hung ác được khỏi, Và trong ngày thạnh nộ, nó được thoát?
30Що в день біди лиходїй щаджен буває, а в день гнїву одводиться набік?
31Tại trước mặt hắn, ai dám trách hắn vì tánh hạnh hắn? Ai sẽ báo ứng điều hắn đã làm?
31Хто ж поставить йому перед очі путь його, й хто відплатить йому за те, що він коїв?
32Nó sẽ được đưa đến huyệt mả, Và người ta sẽ canh giữ phần mộ nó.
32Кладовище для його — глибокі гроби; за ним ійде товпа людей, а тим, що йдуть, провожаючи його, навперід його, нема й лїку.
33Các cục đất của trũng lấy làm êm dịu cho nó; Mọi người đều đi noi theo, Và kẻ đi trước thì vô số.
33Як же се хочете ви розважити мене пустим? В вашій розвазї одна тільки лож.
34Vậy, sao các bạn an ủi tôi vô ích dường ấy? Vì những câu đáp của các bạn chỉ còn sự bất trung mà thôi.
no verse 34 in this text
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.