Gióp 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Bấy giờ, Ê-li-pha, người Thê-man đáp lời mà rằng:
1І відказав Елифаз із Теману й промовив:
2Nếu người ta thử nói với ông, ông sẽ mất lòng chăng? Nhưng ai cầm giữ mình không nói sao được?
2Як ми стребуємо заговорити до тебе, — чи не буде се тобі прикро? Да хто слово може зупинити?
3Kìa, ông đã dạy dỗ nhiều người, Và làm cho tay yếu đuối ra mạnh mẽ;
3Отсе ти не одного навчав, і знемагаючі руки піддержував;
4Các lời nói ông đã đỡ kẻ xiêu tó lên, Và đầu gối lung lay, ông đã làm cho vững bền.
4Хто спотикавсь, того підкріпляли слова твої, і хистким колїнам ти додавав сили.
5Nhưng bây giờ tai nạn xảy đến ông, ông lại giận; Nó lâm vào ông, thì ông bị rối lòng.
5Тепер же дійшло до тебе, а ти знемочнїв; дотикнуло тебе, та вже й упав духом.
6Oâng kính sợ Đức Chúa Trời, ấy há chẳng phải nơi nương nhờ của ông? Tánh hạnh hoàn toàn của ông, há chẳng phải sự trông cậy của ông sao?
6Чи ж богобоязність твоя не повинна бути твоєю надїєю, а невинність доріг твоїх — упованнєм твоїм?
7Oâng hãy suy xét lại, nào bao giờ có kẻ vô tội bị hư mất? Đâu có người ngay thẳng lại bị trừ diệt?
7Згадай же сам, хто погибав безвинний, і праведних коли викоренювано?
8Theo điều tôi đã thấy, ai cày sự gian ác, Và gieo điều khuấy rối, thì lại gặt lấy nó.
8Я сам бачив, що хто в безбожностї орав і сїяв лихо, той сам його й пожинав.
9Bởi hơi thở Đức Chúa Trời, chúng bèn hư mất, Tại hơi xịt giận Ngài, họ bị tiêu hao đi.
9Такі від подуву Божого погибають, а від духа гнїву його зникають.
10Tiếng gầm của sư tử, và giọng sư tử hét đã êm lặng, Và nanh của các sư tử con bị gãy.
10Рев лева й голос рикаючого вмовкає, і зуби в левчуків кришаться;
11Sư tử mạnh bạo chết vì thiếu mồi, Và các sư tử con bị tản lạc.
11Могутний лев гине без добичі, й щенята левицї розбігаються.
12Có một lời mật thấu đến tôi, Lỗ tai tôi văng vẳng nghe tiếng ấy,
12І надійшло до мене зтиха слово (Боже), й я почув його ледь-неледь ухом.
13Ban đêm đang khi loài người ngủ mê, Lòng tôi suy tưởng, bèn thấy dị tượng,
13Серед розгадування над ночними привидами, коли сон на людей находить,
14Sự kinh khủng sợ hãi xông hãm tôi, Khiến xương cốt tôi run rẩy.
14Я задрожав і затремтїв у страсї, і всї кістки в мене затрусились;
15Có một thần đi ngang qua trước mặt tôi; Các lông tóc của thịt tôi bèn xửng lên.
15І перейшов дух понад мене, й волоссє стало в мене диба.
16Thần đứng đó, tôi nhìn không biết mặt người; Có một hình dạng ở trước mặt tôi. Tôi nghe tiếng thầm thì nho nhỏ, mà rằng:
16І став хтось — не бачив я лиця його, — тільки тїнь перед очима в мене; тихий повів — і я чую голос:
17“Loài người hay chết, há công bình hơn Đức Chúa Trời ư? Loài người há được trong sạch hơn Đấng Tạo hóa mình sao?”
17Чи ж чоловік праведнїйший від Бога? й людина чистійша за Творця свого?
18Kìa, Đức Chúa Trời không tin cậy các tôi tớ Ngài, Ngài thường trách sự điên dại của thiên sứ Ngài.
18Та ж ось він і слугам своїм не йме віри, і в ангелів своїх знаходить хиби;
19Phương chi những kẻ ở chòi đất sét được cất trên nền bụi cát, Bị chà nát như loài sâu mọt!
19А скільки ж більш у тих, що живуть у глиняних хатинах, що основи їх у поросї, й вони борше, як міль, зникають.
20Giữa khoảng sáng đến chiều, chúng bị hư nát; Hằng chết luôn luôn, mà chẳng có ai lưu ý đến.
20Між ранком і вечером вони розпадаються, й не доглянешь, як без слїду зникнуть.
21Dây chằng của chúng há chẳng bị dứt trong mình họ sao? Chúng thác, nào được khôn ngoan chi.
21А чи ж із ними, не пропадають і почестї їх? Вони вмерають, не дійшовши до мудростї.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.