Gióp
Chapter 36
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kulish and Puluj B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Ê-li-hu nói tiếp rằng:
1І провадив Еліуй річ дальше й говорив:
2Xin hãy nhịn tôi một chút, tôi sẽ chỉ cho ông; Vì tôi còn những lời binh vực Đức Chúa Trời.
2Зажди ще трохи; я покажу тобі, що маю ще дещо про Бога сказати.
3Tôi sẽ đem đến từ xa điều tôi hiểu biết, Và xưng tỏ sự công bình của Đấng Tạo hóa tôi.
3Почну розслїди мої здалека й стану в оборонї справедливостї Творця мого.
4Quả hẳn các lời luận tôi chẳng phải giả dối; Đấng vốn trọn vẹn về tri thức đang ở cùng ông.
4Льжи бо певно нема в слові мойму; явлюсь тобі в повнотї знання мого.
5Kìa, Đức Chúa Trời có quyền năng, không khinh bỉ ai; Trí huệ Ngài rất rộng lớn.
5Знай, Бог могучий, однакже не гордить сильним, що кріпкий серцем.
6Ngài chẳng bảo tồn mạng sống của kẻ gian ác, Nhưng xử đoán công bình cho kẻ khổ nạn.
6Але він і не піддержує безбожників і дає придавленим, що їм належить.
7Ngài chẳng xây mặt khỏi người công bình; Song Ngài khiến họ đồng ngồi cùng các vua trên ngôi mãi mãi, Và họ được cao trọng.
7Не одвертає очей він од людей правих, і на все саджає їх поруч із царями на престолї й приводить до поваги.
8Nếu họ phải mang xiềng xích, Và bị dây gian truân vấn vướng,
8Як же инші в кайданах і звязані повороззєм нужди —
9Thì Ngài chỉ tỏ cho họ công việc mình đã làm, Các tội lỗi và tánh hạnh kiêu ngạo của họ.
9Він їх дїла їм покаже й гріхи їх превеликі;
10Ngài cũng mở lỗ tai của chúng cho nghe lời sửa dạy, Khuyên họ trở lại bỏ điều gian ác.
10Та відтулює їм ухо, щоб розуміли, й велить завернутись од їх ледачих учинків.
11Nếu chúng vâng nghe và phục sự Ngài, Thì các ngày chúng sẽ được may mắn, Và những năm chúng được sự vui sướng.
11І, як послухають та стануть йому служити, то й провожати муть днї свої в щастї, і лїта свої в радощах;
12Nhưng nếu họ không khứng nghe theo, ắt sẽ bị gươm giết mất, Và chết không hiểu biết gì.
12Як же не послухають, — згинуть од (Божого) стрілу й визівнуть духа в слїпотї своїй.
13Lòng giả hình tích chứa sự thạnh nộ; Khi Đức Chúa Trời bắt xiềng chúng, chúng chẳng kêu cứu.
13Лукаві же — вони зрушують серцем своїм гнїв (Божий); вони й не кличуть до його, коли закує їх в кайдани;
14Chúng chết đang buổi thanh xuân; Đời chúng bị hư mất trong bọn gian dâm.
14Тим і мруть вони в молодощах, а життє їх із блудниками.
15Đức Chúa Trời dùng sự hoạn nạn mà cứu kẻ bị hoạn nạn, Và nhờ sự hà hiếp mà mở lỗ tai của người.
15Бідного ж він рятує з біди його, і в тїснотї відтулює ухо його.
16Ngài cũng chắc đã muốn dụ ông khỏi hoạn nạn, Đặt ông nơi khoảng khoát, chẳng còn sự cực lòng; Còn các món ăn dọn nơi bàn ông, tất đều được đầy mỡ béo.
16Викликав би й тебе він з тїсноти на місце просторе, де нема притиску, й на столї твойму страва повна була б товщі.
17Nhưng ông đầy dẫy sự nghị luận của kẻ ác; Sự xét đoán và sự hình phạt chắc sẽ hãm bắt ông.
17Да в тебе повно розсудів безбожних, а суд і присуд — укупі.
18Chớ để cơn giận giục ông chống cự cùng sự sửa phạt; Đừng lầm lạc vì cớ giá bội thường lớn quá.
18О, нехай не вдарить тебе гнїв Божий карою! І найбільший викуп не спас би тебе.
19Chớ thì sự giàu có ông và các thế lực của ông, Có thể cứu ông khỏi sự hoạn nạn sao?
19Чи ж дасть бо він яку цїну твому багацтву? Нї, — анї золотові, анї нїякому скарбові.
20Chớ ước ao đêm tối, Là lúc dân tộc bị cất đi khỏi chỗ mình.
20О, не бажай тієї ночі, коли й народи з своїх місць зникають!
21Khá giữ lấy mình, chớ xây về tội ác; Vì ấy là điều ông ưa chọn hơn sự hoạn nạn.
21Остерегайсь, не нахиляйсь до безбожностї, яку ти волїєш, нїж тихо страдати.
22Kìa, Đức Chúa Trời dùng quyền năng mà làm việc cách cao cả, Có giáo sư nào giống như Ngài chăng?
22Глянь, Бог у силї величен, і де такий, як він, законодавець?
23Ai có chỉ dạy cho Ngài biết con đường của Ngài? Và ai nói rằng: Chúa có làm quấy?
23Хто йому вкаже дорогу його; хто скаже: Ти чиниш несправедливість?
24Hãy nhớ ngợi khen các công việc Chúa, Mà loài người thường có ca tụng.
24Памятай на те, щоб його дїла хвалити, що їх люде видять.
25Mọi người đều đã ngoạn xem công việc ấy, Và loài người từ xa nhìn thấy nó.
25Всї бо люде можуть їх бачити; чоловік може їх і надалеки постерігати.
26Phải, Đức Chúa Trời là cực đại, chúng ta không biết được Ngài; Số năm của Ngài thọ không ai kể xiết được.
26Ось, Бог великий й годї нам його поняти; лїт його нам не злїчити.
27Vì Ngài thâu hấp các giọt nước: Rồi từ sa mù giọt nước ấy bèn hóa ra mưa,
27Краплями збірає він води, а вони силою виливаються дощем;
28Đám mây đổ mưa ấy ra, Nó từ giọt sa xuống rất nhiều trên loài người.
28Ринуть вони із хмар, і густо лиються на людей.
29ai có thể hiểu được cách mây giăng ra, Và tiếng lôi đình của nhà trại Ngài?
29А хто може зміркувати, як за далеко облаки сягають, або тріск у шатрі його?
30Kìa, Chúa bủa ánh sáng ra chung quanh Ngài, Và che lấp đáy biển.
30А ось, він обливає його сьвітлом своїм і покриває дно моря.
31Vì nhờ những điều ấy Ngài xét đoán các dân tộc; Ngài ban cho lương thực nhiều.
31Звідси судить він народи, звідси дає багату поживу.
32Ngài giấu sấm sét trong tay Ngài, Và truyền nó phải đánh nơi nào.
32В жменях держить блискавицю й приказує їй, кого вдарити.
33Tiếng sấm sét báo cáo việc Ngài, Và chính súc vật cũng đoán điềm dông mưa gần đến.
33Грім дає знати про неї, та й скот відчуває, що дїєсь.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.