Gióp
Chapter 37
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Petrus Canisius Bi…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)
1Phải, trái tim tôi run sợ vì sự đó, Nó nhảy động dời khỏi chỗ nó.
1Ja, hierover siddert mijn hart, En springt op van zijn plaats.
2Khá nghe, khá nghe giọng vang dầy của tiếng Ngài, Và tiếng ầm ầm ra khỏi miệng Ngài!
2Hoort, hoort het bulderen van zijn stem, Het gebrom, dat komt uit zijn mond.
3Ngài khiến nó dội dưới các từng trời, Và chớp nhoáng Ngài chiếu đến cùng trái đất.
3Langs heel de hemel slingert Hij zijn bliksem, En tot de grenzen der aarde.
4Kế liền có tiếng ầm ầm, Ngài phát tiếng oai nghi và sấm rền ra, Và khi nổi tiếng Ngài lên, thì không cầm giữ chớp nhoáng lại.
4Zijn stem gromt achter Hem aan, Hij dondert met zijn machtige kreet; Hij houdt de bliksem niet terug, Wanneer zijn stem zich laat horen.
5Đức Chúa Trời phát tiếng và sấm rền ra lạ kỳ; Ngài làm những công việc lớn lao mà chúng ta hiểu không nổi?
5Maar ook wonderen wrocht God door zijn stem, Doet grote, onbegrijpelijke dingen!
6Vì Ngài phán với tuyết rằng: Hãy sa xuống đất! Và cũng phán vậy cho trận mưa mây và mưa lớn.
6Hij spreekt tot de sneeuw: Val op aarde neer; Tot de regenstromen: Weest hevig!
7Ngài niêm phong tay của mọi người, Để mọi người Ngài đã dựng nên biết được công việc của Ngài.
7Dan sluit Hij alle mensen op, Opdat ieder sterveling zijn werk erkent;
8Khi ấy các thú vật rừng rút trong hang nó, Và ở trong hầm của chúng nó.
8Ook de dieren zoeken hun schuilplaats op, En leggen zich neer in hun holen.
9Từ các lầu các phương nam bão tuôn tới, Và gió bắc dẫn lạnh lẽo đến.
9Uit zijn kamer komt de wervelwind, Uit zijn voorraadschuren de koude;
10Nước đá thành ra bởi hơi thở của Đức Chúa Trời; Bề rộng của nước đông đặc lại.
10Door de adem Gods wordt het ijs gestolten, De watervlakte in boeien gelegd;
11Ngài chứa nước trong mây, Và giăng ra các mây chớp nhoáng của Ngài;
11Het zwerk belaadt Hij met dampen, En spreidt zijn lichtende wolken uit.
12Nhờ Ngài dẫn dắt, nó bay vận khắp tứ phương, Đặng làm xong công việc mà Ngài phán biểu nó làm trên khắp trái đất.
12Ze zweven naar alle kanten rond, En gaan, zoals Hij het beschikt, Om te volbrengen, wat Hij hun gebiedt, Op de oppervlakte der aarde:
13Ngài sai mây hoặc để giáng họa, hoặc để tưới đất, Hoặc để làm ơn cho loài người.
13Is het tot straf, ze volbrengen zijn wil; Is het tot zegen, ze voeren hem uit.
14Hỡi Gióp, hãy nghe lời nầy, Khá đứng yên, suy nghĩ về các việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời.
14Job, schenk er uw aandacht aan, Houd op, en let op Gods wonderen!
15Oâng có biết cách nào Đức Chúa Trời sắp đặt các việc ấy chăng? Cách nào Ngài chiếu lòa chớp nhoáng của mây Ngài chăng?
15Begrijpt ge, hoe God ze gebiedt, En het licht van zijn wolken doet flitsen;
16Oâng có biết mây cân bình sao chăng? Có hiểu công việc diệu kỳ của Đấng có trí huệ trọn vẹn sao chăng?
16Begrijpt ge iets van het zweven der wolken, Van de wonderwerken van den Alwetende?
17Có biết cớ sao quần áo ông nóng, Khi Ngài lấy gió nam mà làm cho trái đất được an tịnh?
17Gij, wiens kleren te warm zijn, Als de aarde amechtig van de zuidenwind ligt:
18Oâng có thế trải bầu trời ra với Đức Chúa Trời chăng? Nó vốn vững chắc như một tấm kính đúc.
18Kunt gij, evenals Hij, het zwerk tot een uitspansel strijken, Vast als een spiegel van gegoten metaal?
19Hãy dạy cho chúng tôi biết điều chúng tôi phải thưa cùng Ngài; Vì tại sự dốt nát, chúng tôi chẳng biết bày lời gì với Ngài.
19Laat mij weten, wat wij Hem zullen zeggen, Wij, die door de duisternis hulpeloos staan!
20Người ta há sẽ thuật với Đức Chúa Trời rằng tôi muốn thưa với Ngài sao? Nếu ai nói với Ngài, quả hẳn sẽ bị nuốt đi.
20Zal deze wijken wanneer ik het zeg; Worden weggevaagd, als de mens het beveelt?
21Bây giờ, người ta không thấy sự sáng chói lòa, nó đã ẩn trong mây; Nhưng gió thổi qua xô mây đi và trời trong trẻo lại.
21Neen, thans aanschouwt men geen licht, Het is door de wolken verduisterd; Maar een wind steekt op, en bezemt ze weg:
22Ráng vàng từ phương Bắc đến; Nơi Đức Chúa Trời có oai nghiêm đáng sợ thay!
22En uit het Noorden breekt de goudglans door! God is van ontzagwekkende luister omringd:
23Luận về Đấng Toàn năng, ta không tìm thấy đến Ngài được: Ngài vốn rất quyền năng, rất chánh trực và công bình cực điểm, không hề hà hiếp ai.
23Wij dringen dus niet tot den Almachtige door! Hij is groot in kracht en gerechtigheid; Hij is de Heer van het recht, die nimmer verdrukt!
24Bởi cớ ấy nên loài người kính sợ Ngài; Ngài không đoái đến kẻ nào tưởng mình có lòng khôn ngoan.
24Daarom moeten de mensen Hem vrezen, Doorgronden Hem al de wijzen niet!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.