Gióp 23
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Gióp đáp rằng:
1A LAILA olelo mai la o loba, i mai la,
2Cho đến ngày nay, sự than siết tôi hãy còn cay đắng, Tay đè trên tôi nặng hơn sự rên siết tôi.
2I keia la hoi ua awaawa kuu ulono ana; Ua oi ke kaumaha o ka lima maluna o'u mamua o kuu kanikau ana.
3Oâi! Chớ chi tôi biết nơi nào tìm được Chúa, Hầu cho đi đến trước tòa của Ngài?
3Ina paha e ike au i kahi e loaa'i ia'u ia, E hele aku auanei au a kona wahi!
4Tôi hẳn sẽ giãi bày duyên cớ tôi trước mặt Ngài, Và làm đầy miệng tôi những lý luận.
4E hooponopono aku au imua ona i ko'u, A e hoopiha i ko'u waha i ka olelo hoakaka,
5Tôi sẽ biết các lời Ngài đáp lại cho tôi, Và hiểu điều Ngài muốn phán cùng tôi.
5E ike au i na olelo ana e pane mai ai ia'u, A e manao i ka mea ana e olelo mai ai ia'u.
6Chúa há sẽ lấy quyền năng lớn lao Ngài mà tranh luận với tôi sao? Không, Ngài sẽ chú ý về tôi.
6E paio anei ia me au me kona mana nui? Aole, aka, e manao mai no ia ia'u.
7Tại đó người ngay thẳng sẽ luận biện với Ngài, Và tôi được thoát khỏi kẻ đoán xét tôi đến mãi mãi.
7Malaila e paio ka mea pono me ia; A e hoopakele loa ia au mai kuu lunakanawai aku,
8Nầy, tôi đi tới trước, nhưng không có Ngài tại đó; Tôi đi lại sau, song tôi cũng chẳng nhìn thấy Ngài;
8Aia hoi, hele aku au ma ka hikina, aole ia malaila; A ma ke komohana, aole au e ike ia ia:
9Qua phía tả, khi Ngài đang làm công việc đó, song tôi không phân biệt Ngài được; Ngài ẩn tại phía hữu, nên tôi chẳng thấy Ngài.
9Ma ke kukuluakau, kahi ana i hana ai, aole au e nana ia ia; Ua hunaia oia ma ke kukuluhema, aka, aole au e ike ia ia:
10Nhưng Chúa biết con đường tôi đi; Khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng.
10No ka mea, ua ike no ia i ka aoao iloko o'u; Ke hoao nei ia ia'u, a e puka aku auanei au, me he gula la.
11Chân tôi bén theo bước Chúa; Tôi giữ đi theo đường Ngài, chẳng hề sai lệch.
11Ua hoopaa ko'u wawae i kona hele ana, Ua malama au i kona aoao, aole au i haalele.
12Tôi chẳng hề lìa bỏ các điều răn của môi Ngài, Vẫn vâng theo lời của miệng Ngài hơn là ý muốn lòng tôi.
12Mai ke kauoha o kona mau lehelehe aku, aole au i hele; Ua malama au i na olelo a kona waha mamua o kuu haawina ai.
13Nhưng Chúa đã một ý nhất định, ai làm cho Ngài đổi được? Điều gì lòng Ngài muốn, ắt Ngài làm cho thành:
13Aka, oia ka mea hookahi, a owai ke hoohuli ia ia? A o ka mea a kona naau e makemake ai, oia kana e hana'i
14Điều Ngài đã nhất định cho tôi, tất Ngài sẽ làm cho xong: Trong lòng Ngài còn có lắm điều khác giống như vậy.
14No ka mea, ua hana mai ia i ka mea i hoopaaia no'u: A nui na mea ia ia e like me ia.
15Bởi cớ ấy, tôi kinh khủng trước mặt Ngài; Khi nào tôi tưởng đến, bèn sợ hãi Ngài.
15Nolaila, ua haalulu au imua o kona alo; Noonoo iho la au, a makau ia ia.
16Vì Đức Chúa Trời khiến lòng tôi bủn rủn, Đấng Toàn năng làm cho tôi hoảng sợ;
16Ke hoomakau mai nei ke Akua i kuu naau, A ke hooweliweli mai nei ka Mea mana ia'u;
17Vì tôi chẳng sợ sệt bởi sự tối tăm, Cũng chẳng sợ hãi vì u ám mù mịt che phủ mặt tôi.
17No ka mea, aole i okiia aku au imua o ka pouli, Aole hoi i huna mai ia i ka pouli mai kuu maka aku.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.