Gióp 19
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Gióp bèn đáp lời rằng:
1A LAILA olelo mai o Ioba, i mai la,
2Các ngươi làm buồn lòng ta đến chừng nào, Và lấy lời giảng luận khiến cực nhọc ta đến bao giờ?
2Pehea la ka loihi e hoeha mai ai oukou i kuu uhane, A e haihai mai ia'u ma na olelo?
3Kìa đã mười lần các ngươi quở trách ta, Bạc đãi ta mà không mắc cỡ.
3Eia ka umi o ka oukou olelo ino mai ia'u; Aole oukou i hilahila, ke hookulikuli oukou ia'u;
4Dầu ta có thật lầm lỗi thế nào, Sự lỗi ta vẫn ở nơi ta.
4Ina he oiaio, he lalau ko'u, Ke waiho nei me au kuu lalau ana.
5Nếu thật các ngươi muốn tự cao đối cùng ta, Lấy sự sỉ nhục ta mà trách móc ta,
5Ina he oiaio, e hookiekie oukou e ku e ia'u, A e ao mai ia'u i kuu hoinoia:
6Vậy, hãy biết rằng ấy Đức Chúa Trời đã đánh đổ ta, Và giang lưới Ngài chung quanh ta.
6E ike oukou ano, ua hookahuli mai ke Akua ia'u, A ua hoopuni mai ia'u i kana upena.
7Nầy tôi kêu la về sự hung bạo, song tôi chẳng đặng nhậm lời. Tôi kêu cầu tiếp cứu, bèn không có sự công bình.
7Aia hoi, ke kahea aku nei au no ka hana ino ia, aole au i hooloheia mai; Ke hea nui aku nei an, aohe hooponopono.
8Chúa có chận đường tôi, tôi chẳng đi qua được. Ngài có để tăm tối trên đường lối tôi.
8Ua alalai mai ia i ko'u ala, aole au e hiki ke hele aku, A ua kau no ia i ka pouli ma kuu mau alanui.
9Ngài có bóc lột sự vinh quang tôi, Và cất mão triều khỏi đầu tôi.
9Ua hao mai ia ia'u i kuu nani, Ua lawe hoi i ka leialii mai kuu poo aku.
10Ngài có làm đồi tệ tôi tứ phía, và tôi hư mất đi; Ngài rứt nhổ sự trông cậy tôi như cây cối.
10Ua luku mai ia ia'u a puni, a ua pau hoi au; A ua uhuki ae ia i kuu manaolana, me he laau la,
11Ngài cũng nổi thạnh nộ cùng tôi, Cầm tôi là một kẻ cừu địch Ngài.
11Ua hoaa no ia i kona inaina ia'u, A ua manao no ia'u me kona poe enemi.
12Các đạo binh Ngài đã cùng nhau kéo tới, Đắp đường họ để đến hãm đánh tôi, Và đóng ở chung quanh trại tôi.
12Hoakoakoaia kona poe koa, A hoouka ae lakou i ko lakou kuamoo ia'u, A hoomoana lakou a puni ko'u halelewa.
13Ngài khiến các anh em tôi lìa xa tôi, Và những người quen biết tôi trở nên kẻ lạ.
13Ua hoomamao aku ia i ko'u mau hoahanau mai o'u aku la, A o ko'u mau hoalauna, ua hoomaka e lakou ia'u.
14Các thân thích đều lìa bỏ tôi, Các mật hữu tôi đã quên tôi.
14Ua haalele kuu mau hoa pili ia'u, A o kuu poe makamaka, ua hoopoina lakou ia'u.
15Những kẻ ở trong nhà tôi, và các tớ gái tôi đãi tôi như một khách lạ, Trước mặt chúng, tôi đã trở thành một người ngoài.
15O ka poe e noho ana ma kuu hale, a me na kauwawahine a'u, manao mai lakou ia'u he malihini: He kanaka e no wau i ko lakou mau maka.
16Tôi gọi kẻ tôi tớ tôi, mà nó không thưa, Dẫu tôi lấy miệng mình nài xin nó cũng vậy.
16Kahea aku au i ka'u kauwa, aole ia e o mai; Nonoi aku au ia ia me kuu waha.
17Hơi thở tôi làm gớm ghiếc cho vợ tôi, Và con trai của mẹ tôi ghét lời cầu khẩn tôi.
17Ua ano e kuu hanu i ka'u wahine, A me kuu uwe ana i na keiki o kuu kino.
18Đến đỗi những đứa trẻ cũng khi tôi; Nếu tôi chổi dậy, chúng nó nhạo báng tôi.
18O na keiki liilii, hoowahawaha lakou ia'u; Ku no wau iluna, a olelo ku e mai lakou ia'u.
19Các bạn thân thiết đều gớm ghét tôi, Những người tôi thương mến đã trở nghịch tôi.
19O na hoa kuka o'u a pau, ua hoopailua lakou ia'u; A o ka poe a'u i aloha i, ua huli lakou e ku e ia'u.
20Xương cốt tôi sát vào da và thịt tôi, Tôi đã thoát được chỉ còn da bọc răng tôi mà thôi.
20Ke pili nei kuu iwi i ko'u ili a me ko'u io, A ua pakele au me ka ili o ko'u mau niho.
21Hỡi các bằng hữu tôi, hãy thương xót tôi, hãy thương xót tôi! Vì tay của Đức Chúa Trời đã đánh tôi.
21E aloha mai ia'u, e aloha mai ia'u, e oukou ko'u poe makamaka; No ka mea, ua hahau mai ka lima o ke Akua ia'u!
22Cớ sao các bạn bắt bớ tôi như Đức Chúa Trời, Và chưa no nê thịt tôi sao?
22No ko aha la oukou e hahai mai ai ia'u, me he Akua la, Aole hoi oukou i maona i kuu io?
23Oâi! Chớ chi các lời tôi đã biên chép! Ước gì nó được ghi trong một quyển sách!
23Ina paha ano e kakauia ka'u mau olelo! Ina e palapalaia lakou iloko o ka buke!
24Chớ gì lấy cây viết bằng sắt và chì, Mà khắc nó trên đá lưu đến đời đời!
24Me ka peni hao a me ke kepau, E kahakaha mau ia lakou iloko o ka pohaku!
25Còn tôi, tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống, Đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất.
25No ka mea, ua ike au e ola ana kuu Mea hoola, A i ka wa mahope e ku no ia maluna o ka honua.
26Sau khi da tôi, tức xác thịt nầy, đã bị tan nát, Bấy giờ ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Đức Chúa Trời;
26A mahope o kuu ili, e hoopau na ilo i keia kino, Aka, ma kuu io e ike aku au i ke Akua.
27Chính tôi sẽ thấy Ngài, Mắt tôi sẽ nhìn xem Ngài, chớ chẳng phải kẻ khác: Lòng tôi hao mòn trong mình tôi.
27Oia ka'u e ike aku no'u iho, A e ike ko'u mau maka, aole ko hai; Ua kaniuhu kuu naau iloko o'u.
28Nếu các bạn nói rằng: Chúng ta sẽ khuấy rầy người làm sao? Và rằng căn nguyên tai họa vốn tìm tại trong mình tôi,
28Aka, e olelo oukou, No ke aha kakou e hoomaau ia ia, No ka mea, ua loaa ko kumu o ka mea iloko o'u?
29Khá sợ mũi gươm, Vì gươm là một khí giới hung tàn phạt tội gian ác, Để các bạn biết rằng có sự phán xét.
29E makau oukou i ka pahikaua; No ka mea, o ka huhu, oia ka hewa no ka pahikaua, I ike oukou, he hoopai ana no.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.