I Phia 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vậy, vì Đấng Christ đã chịu khổ trong xác thịt, thì anh em cũng phải lấy sự đó làm giáp trụ, vì người nào đã chịu khổ trong xác thịt, thì đã dứt khỏi tội lỗi,
1U A eha o Iesu ma ke kino no kakou, nolaila e hoomakaukau no oukou i manao like; no ka mea, ina e eha kekahi ma ke kino, ua hookaawaleia oia i ka hewa;
2hầu cho còn sống trong xác thịt bao lâu thì chớ lại theo những sự người ta ưa thích, một phải theo ý muốn Đức Chúa Trời.
2I ole oia e noho hou aku i kona manawa e koe ma ke kino, mamuli o ke kuko kanaka, aka, mamuli o ko ke Akua makemake.
3Ngày trước cũng đã đủ làm theo ý muốn người ngoại đạo rồi, mà ăn ở theo tà tịch, tư dục, say rượu, ăn uống quá độ, chơi bời, và thờ hình tượng đáng gớm ghiếc.
3No ka mea, o ka manawa i hala o ka kakou ola ana, ua nui ia e hana aku ai i ka makemake o ko na aina e, i ko kakou hahai ana i ka makaleho, a me ke kuko, a me ka pakela inu waina, a me ka ahaaina hooipoipo, A me ka aha inu, a me ka malama kii e hoowahawahaia'i.
4Họ thấy anh em chẳng cùng họ theo sự dâm dật bậy bạ ấy, thì họ lấy làm lạ và gièm chê.
4Ke kahaha nei no lakou me ke kuamuamu mai i ko oukou holo pu ole ana me lakou i ka hoomaunauna ino.
5Nhưng họ sẽ khai trình với Đấng đã sẵn sàng xét đoán kẻ sống và kẻ chết.
5E hoike auanei lakou ia lakou iho, i ka mea i makaukau e hookolokolo mai i ka poe ola a me ka poe make.
6Vì ấy bởi điều đó mà Tin Lành cũng đã giảng ra cho kẻ chết, hầu cho sau khi chịu xét đoán theo loài người về phần xác, thì họ được sống theo Đức Chúa Trời về phần hồn.
6Nolaila hoi i haiia'ku ai ka olelo maikai i ka poe i make, i hoohewaia lakou e kanaka ma ke kino, a i hoalaia hoi lakou e ke Akua ma ka Uhane.
7Sự cuối cùng của muôn vật đã gần; vậy hãy khôn ngoan tỉnh thức mà cầu nguyện.
7Ua kokoke mai no ka hopena o na mea a pau; nolaila, e kuoo oukou, a e kiai ma ka pule.
8Nhất là trong vòng anh em phải có lòng yêu thương sốt sắng; vì sự yêu thương che đậy vô số tội lỗi.
8Eia ka mea oi mamua o na mea a pau, o ka pumahana o ke aloha iwaena o oukou; no ka mea, o ke aloha ka mea e uhi ai i na hewa he nui loa.
9Người nầy người khác phải tiếp đãi nhau, chớ có cằn rằn.
9E hookipa maikai oukou i kekahi i kekahi, me ka ohumu ole.
10Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời.
10E like me ka haawina i loaa mai i kekahi a me kekahi, pela e haawi aku ai kekahi i kekahi, e like me na puuku pono o ko ke Akua lokomaikai ano e.
11Ví bằng có người giảng luận, thì hãy giảng như rao lời sấm truyền của Đức Chúa Trời; nếu có kẻ làm chức gì, thì hãy làm như nhờ sức Đức Chúa Trời ban, hầu cho Đức Chúa Trời được sáng danh trong mọi sự bởi Đức Chúa Jêsus Christ; là Đấng được sự vinh hiển quyền phép đời đời vô cùng. A-men.
11Ina e olelo aku kekahi, e olelo ia e like me ka olelo a ke Akua; ina e lawelawe kekahi, e hana no ia me ka ikaika a ke Akua i haawi mai ai, i hoonaniia ke Akua ma na mea a pau, ma o Iesu Kristo la; ia ia no ka hoonaniia, a me ka mana mau loa, i ke ao pau ole. Amene.
12Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường.
12E na pokii e, o ka pilikia e hiki mai ana io oukou la, i mea e hoao mai ai ia oukou, mai haohao oukou ia mea, me he mea hou la e hiki mai ai ia oukou:
13Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót.
13Aka, e olioli oukou, no ka mea, he poe hoaeha pu oukou me Kristo; i mea e hauoli loa ai oukou i ka wa e hoikeia mai ai kona nani.
14Ví bằng anh em vì cớ danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì anh em có phước; vì sự vinh hiển và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đậu trên anh em.
14Pomaikai oukou, ke hoinoia oukou no ka inoa o Kristo; no ka mea, ua kau mai ka Uhane nani o ke Akua maluna o oukou: ma o lakou la, ua kuamuamuia oia; aka, ma o oukou nei, ua hoonaniia oia.
15Trong anh em chớ có ai chịu khổ như kẻ giết người, như kẻ trộm cướp, như kẻ hung ác, như kẻ thày lay việc người khác.
15Mai lilo kekahi o oukou i ka hoehaia, me he pepehi kanaka la; a me he aihue la, a ma ka hana hewa, a ma ka hoohaunaele.
16Nhưng nếu có ai vì làm tín đồ Đấng Christ mà chịu khổ, thì đừng hổ thẹn; thà hãy vì danh ấy ngợi khen Đức Chúa Trời là hơn.
16Aka, ina i hoehaia kekahi no Kristo, mai hilahila oia; aka, e hoonani aku oia i ke Akua no keia mea.
17Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Đức Chúa Trời; vả, nếu khởi từ chúng ta, thì sự cuối cùng của những kẻ chẳng vâng theo Tin Lành Đức Chúa Trời sẽ ra thế nào?
17No ka mea, e hiki mai auanei ka manawa e hoomaka ai ka hoohewaia ma ko ka hale o ke Akua; a ina ma o kakou nei ka mua, heaha la uanei ka hope o ka poe i malama ole i ka euanelio a ke Akua?
18Lại nếu người công bình còn khó được rỗi, thì những kẻ nghịch đạo và có tội sẽ trở nên thế nào?
18A ina he mea aneane hiki ole ke ola ana o ka poe pono, mahea la uanei kahi e ikea ai ka poe aia, a me ka hana hewa?
19Vậy những kẻ chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy cứ làm lành mà phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín.
19No ia mea la, ea, o ka poe i hoehaia mai mamuli o ka manao o ke Akua, ma ka hana pono lakou e kauoha aku ai i ko lakou uhane ia ia, i ka mea hoopono nana i hana.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.