Phil
Chapter 2

Phil

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vậy nếu trong Đấng Christ có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót,
1To pongah nangcae mah Kri ah monghaih, amlunghaih, Muithla angkomhaih, tahmenhaih hoi palungnathaih na tawn o nahaeloe,
2thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn.
2poek amkhraeng ai, maeto hoi maeto amlunghaih, poek anghmonghaih, poek maeto ah amhonghaih hoiah kang hoehaih koep o sak ah.
3Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình.
3Angzoeh koehhaih palungthin, atho kaom ai ahmin amthang koehhaih palungthin hoiah tih hmuen doeh sah o hmah; kai pongah minawk to hoih kue, tiah poekhaih palungthin to tawn oh loe, maeto hoi maeto khingya oh.
4Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa.
4Aimah taham khue khen ai ah, minawk taham doeh poek oh.
5Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có,
5Kri Jesu ah kaom poekhaih palungthin to nangcae khaeah doeh om toeng nasoe:
6Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ;
6Anih loe Sithaw hoi anghmong, toe Anih loe Sithaw hoi kangvan ah om ai:
7chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người;
7toe Anih loe angmah hoi angmah ahmin amthang han sah ai, tamna maeto angdoethaih ahmuen ah angdoet moe, kaminawk hoi kanghmong ah ni oh:
8Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.
8kami maeto baktih toengah a oh, duek khoek to lok tahngaih moe, thinglam pongah duek khoek to, tamna baktiah poek pahnaemhaih a tawnh.
9Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh,
9To pongah Sithaw mah doeh anih to kasang ah pakoeh moe, ahmin boih pong kasang koek ahmin to paek:
10hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống,
10van ah kaom hmuennawk boih, long ah kaom hmuennawk boih, long thungah kaom hmuennawk boih mah, Jesu ih ahmin khingyahaih paek hanah khokkhu cangkrawn o ueloe,
11và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha.
11Ampa Sithaw lensawkhaih amtueng o sak hanah, Jesu Kri loe Angraeng ni, tiah kami boih mah pakha hoi taphong o tih.
12Aáy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy càng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình.
12To pongah palung ih kaminawk, ka hma ah lok na tahngaih o baktih toengah, ka om ai naah doeh lok tahngai oh loe, zithaih hoi tasoeh takuenhaih hoiah nangmacae pahlonghaih tok to sah oh.
13Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.
13Sak han na koeh o moe, na sak o hmaek thai hanah, nangcae thungah toksahkung loe Sithaw ni.
14Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự,
14Na sak o ih hmuen boih ah laisaephaih hoi angaekhaih om ai ah sah oh:
15hầu cho anh em ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian;
15to tiah ni coek koi kaom ai kami, minawk raihaih paek ai kami, poeksae kami hoi lam amkhraeng acaeng kaminawk salakah, zaehaih tawn ai Sithaw caa ah na om o tih, nihcae salakah long aanghaih kapaek ni, khrah hoi cakaehnawk baktiah na aang o thai tih;
16cho đến nỗi tới ngày của Đấng Christ, tôi có thể khoe mình rằng chẳng đã chạy vô ích và khó nhọc luống công.
16to tiah hinghaih lok na patawnh o poe nahaeloe, kai loe tidoeh avang ai ah cawn kami na ai, atho kaom ai ah toksah kami doeh na ai, Kri ih ani phak naah anghoehaih hoiah ka om thai tih.
17Ví dầu huyết tôi phải dùng để tưới trên của tế lễ và của dâng đức tin anh em tôi cũng vui lòng, lại đồng vui với anh em hết thảy.
17Ue, kai loe na tang o haih bangah toksak haih hoi angbawn haih ah paek ih hmuen baktiah ka oh langlacadoeh, oephaih ka tawnh, kai loe nangcae boih hoi nawnto anghoehaih ka tawnh.
18anh em cũng vậy, hãy vui lòng về điều đó, và hãy cùng vui với tôi.
18Nangcae doeh kai baktiah nang hoe o ueloe, kai hoi nawnto nang hoe o toeng tih.
19Vả, tôi mong rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, kíp sai Ti-mô-thê đến cùng anh em, để tới phiên tôi, tôi nghe tin anh em, mà được yên lòng.
19Nangcae ih tamthang ka thaih moe, monghaih ka tawnh thai hanah, nangcae khaeah Timote kang patoeh palang thai tih, tiah Angraeng Jesu ah oephaih ka tawnh.
20Thật vậy, tôi không có ai như người đồng tình với tôi để thật lòng lo về việc anh em:
20Anih baktiah palung tang hoi nangcae khetzawn kakoeh, kami maeto doeh ka tawn ai.
21ai nấy đều tìm lợi riêng của mình, chớ không tìm của Đức Chúa Jêsus Christ.
21Kami boih mah Kri Jesu koehhaih to pakrong o ai, angmacae koehhaih to ni pakrong o boih.
22Nhưng anh em đã biết sự trung tín từng trải của người; và biết người là trung thành với tôi về việc Tin Lành, như con ở với cha vậy.
22Capa hoi ampa nawnto toksak hoi baktih toengah, Timote loe kai hoi nawnto kahoih tamthanglok to ka thuih hoi, tito a sak ih hmuen rang hoiah na panoek o boeh.
23Nên tôi mong sai người đến nơi anh em liền, vừa khi tôi sẽ rõ sự tình tôi ra thể nào;
23To pongah kai khaeah tih hmuen maw om tih, tito ka panoek naah, anih to nangcae khaeah kang patoeh palang thai tih hmang, tiah oephaih ka tawnh.
24tôi lại có lòng trông cậy nầy trong Chúa, là chính mình tôi không bao lâu sẽ đến.
24Angraeng rang hoiah kai doeh akra ai ah nangcae khaeah kang zo thai tih, tiah oephaih ka tawnh.
25trong khi chờ đợi, tôi tưởng cần phải sai Eùp-ba-phô-đích, anh em tôi, bạn cùng làm việc và cùng chiến trận với tôi, đến cùng anh em, người cũng là ủy viên của anh em ở kề tôi, đặng cung cấp mọi sự cần dùng cho tôi vậy.
25Toe kam nawk, tok nawnto ka sak haih ampui, misa nawnto ka tuk haih ampui, nangcae ih laicaeh ah kaom, kai khenzawnkung, Epaphrodita to nangcae khaeah kang patoeh han angaih, tiah ka poek.
26Vì người rất ước ao thấy anh em hết thảy, và đã lo về anh em nghe mình bị đau ốm.
26Anih mah nangcae paroeai poek, anih ngannat ti, tiah na thaih o pongah, anih loe palungset.
27Vả, người mắc bịnh gần chết; nhưng Đức Chúa Trời đã thương xót người, và chẳng những người mà thôi, cả đến tôi nữa, đặng tôi khỏi buồn rầu càng thêm buồn rầu.
27Anih loe duek duih khoek to ngannat; toe Sithaw palungnathaih a nuiah oh; anih khue ai, palungsethaih to palungsethaih hoi thap aep han ai ah, ka nuiah doeh Sithaw palungnathaih oh toeng.
28Vậy, tôi đã sai người đi rất kíp, hầu cho anh em lại thấy người thì mừng rỡ, và tôi cũng bớt buồn rầu.
28To pongah Epaphrodita na hnuk o let naah, nang hoe o thai moe, palung ka sethaih hoih khang hanah, anih ka patoeh han ka koeh aep.
29Thế thì, hãy lấy sự vui mừng trọn vẹn mà tiếp rước người trong Chúa, và tôn kính những người như vậy;
29To pongah anih to Angraeng ah anghoehaih palungthin hoiah talawk oh; to baktih kaminawk to khingya oh:
30bởi, ấy là vì công việc của Đấng Christ mà người đã gần chết, liều sự sống mình để bù lại các việc mà chính anh em không thể giúp tôi.
30anih loe duek duih khoek to Kri ih tok to a sak, anih loe angmah hinghaih to poek ai, kai han nang paek o thai ai ih hmuen to paek hanah tok a sak.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.