II Cô
Chapter 7
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta.
1Palung ih ampuinawk, hae lokkamhaih a tawnh o pongah, taksa hoi poek ciim ai hmuennawk boih to ciimcai o sak si loe, Sithaw zithaih hoiah ciimcaihaih bangah akoep o si.
2Hãy mở lòng anh em cho chúng tôi: chúng tôi chẳng có làm hại ai, lừa dối ai; thủ lợi ai.
2Kaicae han poekhaih palung to paong oh; kaicae loe mi kawbaktih kami nuiah doeh sethaih ka sah o ai, mi kawbaktih doeh kam ro o sak ai, mi kawbaktih doeh ka ling o ai.
3Tôi chẳng nói điều đó để buộc tội anh em; vì tôi đã nói rằng lòng chúng tôi thuộc về anh em, dầu sống hay chết cũng vậy.
3Nangcae lokcaek hanah hae lok hae ka thui ai: nangcae hoi nawnto hing moe, nawnto duek han khoek to kang palung o, tiah kang thuih o boeh.
4Tôi nói với anh em cách bạo dạn; tôi có nhiều lẽ khoe mình vì anh em; tôi được đầy sự yên ủi, tôi được vui mừng quá bội ở giữa mọi sự khó khăn.
4Nangcae nuiah paroeai amoekhaih ka tawnh, nangcae nuiah paroeai amoekhaih ka tawnh pongah, monghaih hoiah ka koi, congca raihaih ka tongh o naah doeh, paroeai anghoehaih ka tawnh.
5Vả, khi chúng tôi đến trong xứ Ma-xê-đoan, xác thịt chẳng được yên nghỉ chút nào. Chúng tôi khốn đốn đủ mọi cách: ngoài thì có sự chiến trận, trong thì có sự lo sợ.
5Macedonia prae ah kang zoh o naah, kaicae takpum anghakhaih om ai, ahmuen kruekah raihaih ka tong o; tasa bangah misa angtukhaih oh moe, palung thungah zithaih to oh.
6Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng yên ủi kẻ ngã lòng, đã yên ủi tôi bởi Tít đến nơi;
6Toe Titu angzohhaih rang hoiah, palungboeng kaminawk monghaih paekkung Sithaw mah monghaih to ang paek.
7không những bởi người đến mà thôi, nhưng lại bởi sự yên ủi người đã nhận lãnh nơi anh em nữa: người có nói cho chúng tôi biết anh em rất ao ước, khóc lóc, và có lòng sốt sắng đối với tôi, điều đó làm cho tôi càng vui mừng thêm.
7Titu angzoh pongah oephaih ka tawn o khue ai ah, anih na bomh o haih, kai hnuk han na koeh o haih, kai palung nang set o haih hoi kai nang mawn o haih loknawk to anih mah ang thuih pongah, anghoehaih ka tawnh aep.
8Dầu nhơn bức thơ tôi, đã làm cho anh em buồn rầu, thì tôi chẳng lấy làm phàn nàn; mà nếu trước đã phàn nàn (vì tôi thấy bức thơ ấy ít nữa cũng làm cho anh em buồn rầu trong một lúc),
8Ka capat mah nangcae palungsaesak doeh om tih, hmaloe ah loe dawnpakhuemhaih ka tawnh; toe vaihi loe dawnpakhuemhaih ka tawn ai boeh: nawnetta thung capat mah nangcae palung ang set o sak, tiah ka panoek.
9nay tôi lại mừng, không phải mừng về sự anh em đã phải buồn rầu, song mừng về sự buồn rầu làm cho anh em sanh lòng hối cải. Thật, anh em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, đến nỗi chưa chịu thiệt hại bởi chúng tôi chút nào.
9Palung kang set o sak pongah, anghoehaih ka tawnh tih haih ih na ai ni, toe dawnpakhuemhaih tawnh thai hanah palung na set o pongah ni kang hoe: ka sak o ih hmuen mah nangcae ih atho to zoksak han ai ah, Sithaw koehhaih baktiah ni palung kang set o sak.
10Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự rỗi linh hồn; về sự đó người ta chẳng hề ăn năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết.
10Sithaw bangah palungsethaih mah loe dawnpakhuem rumram ih na ai ah, amkhrai thai ai pahlonghaih omsak, tangtang dawnpakhuemhaih to tacawtsak; toe long bang ih palungsethaih mah loe duekhaih to oh sak.
11Vậy, hãy xem, sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự ân cần trong anh em là dường nào! Lại có sự chữa chối, buồn giận, răn sợ, sốt sắng, nông nả, trách phạt là dường nào! Anh em đã tỏ ra cho ai nấy đều biết rằng mình vốn là thanh sạch trong việc đó.
11Sithaw bang ih palungsethaih mah loe, kawbaktih nangcae zaehaih maw ohsak, ue, kawbaktih palungphuihaih maw ciimsak, ue, kawbaktih zithaih, ue, kawbaktih sak koehhaih, ue, kawbaktih tha pathokhaih, ue, kawbaktih lokcaekhaih maw ohsak, tito khen oh! Nangcae loe hae hmuennawk boih ah zaehaih na tawn o ai, tito amtueng boeh.
12Lại còn, nếu tôi đã viết thơ cho anh em, ấy không phải vì cớ kẻ làm sự trái nghịch, cũng không phải vì cớ kẻ chịu sự trái nghịch; nhưng hầu cho lòng anh em yêu chuộng chúng tôi được tỏ ra giữa anh em ở trước mặt Đức Chúa Trời.
12To pongah, nangcae khaeah ca ka tarik naah, sakpazaehaih tawn kami hoi zaehaih sah kami to khet moe, tarik ih na ai ni, Sithaw hmaa ah nangcae kang khetzawnhaih amtueng thai han ih ni ka tarik.
13Aáy là điều đã yên ủi chúng tôi. Nhơn sự yên ủi đó chúng tôi lại được sự vui mừng càng lớn hơn nữa, khi thấy sự vui mừng của Tít; vì anh em thảy đều đã để cho tâm thần người được yên lặng.
13To pongah nangcae monghaih rang hoiah kaicae doeh monghaih ka tawnh o toeng: ue, anih mawnhaih tawnh han ai ah tha na paek o pongah, Titu anghoehaih mah kaicae anghoehaih oh sak aep.
14Nếu tôi đã khoe mình với Tít về anh em trong sự gì, thì tôi cũng chẳng hổ thẹn; nhưng vì chúng tôi đã thường nói điều thật với anh em, nên lời khen về anh em mà chúng tôi khoe với Tít cũng thấy là thật.
14Anih khaeah nangcae amoekhaih lok ka thuih cadoeh, ka zat ai; hmuennawk boih ah loktang lok kang thuih o pongah, Titu khaeah ka thuih ih nangcae amoek haih lok doeh tangtang ni, tiah amtueng.
15Khi người nhớ đến sự vâng lời của anh em hết thảy, và anh em tiếp người cách sợ sệt run rẩy dường nào, thì tình yêu thương của người đối với anh em càng bội lên.
15Anih to na talawk o moe, tasoehhaih hoi zithaih hoiah anih ih lok to na tahngaih pae o, tiah Titu mah panoek naah, nangcae nuiah a tawnh ih anih amlunghaih to sang aep aep.
16Tôi vui mừng vì có thể tin cậy anh em trong mọi sự.
16Hmuennawk boih ah nangcae nuiah oephaih ka tawnh pongah, anghoehaih hoiah ka oh boeh.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.