II Cô 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vậy nên, chúng tôi nhờ sự thương xót đã ban cho, mà được chức vụ nầy, thì chúng tôi chẳng ngã lòng;
1Kaicae loe hae baktih toksahkung ah a oh o moe, palungnathaih a hnuk o pongah, tha a zok o ai;
2nhưng chúng tôi từ bỏ mọi điều hổ thẹn giấu kín. Chúng tôi chẳng theo sự dối gạt, và chẳng giả mạo lời Đức Chúa Trời, nhưng trước mặt Đức Chúa Trời chúng tôi tỏ bày lẽ thật, khiến lương tâm mọi người cho chúng tôi là đáng chuộng.
2tamquta hoi sak ih azat kathok hmuennawk to ka takhoe o moe, minawk aling han poek angkawnhaih hoiah Sithaw lok ka thui o ai; minawk mah ang tang o thai hanah, loktang lok to ni ka thuih o, tito Sithaw mah panoek.
3Nếu Tin Lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất,
3Ka thuih o ih kahoih tamthanglok to hawk o ving cadoeh, anghmaa angtaa kaminawk hanah ni hawk o tih:
4cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời.
4Sithaw krang ah kaom, Kri lensawkhaih kahoih tamthanglok aanghaih to, nihcae mah hnuk o thai han ai ah, hae long sithaw mah katang ai kaminawk ih palung to maengsak.
5Vả, chúng tôi chẳng rao giảng chính mình chúng tôi, nhưng rao giảng Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Chúa; và vì tình yêu mến Đức Chúa Jêsus mà chúng tôi xưng mình là tôi tớ của anh em.
5Kaicae loe kaimacae koeh ah lok ka thui o ai, Kri Jesu loe Angraeng ah ohhaih kawng hoi Jesu pongah kaicae loe nangcae ih tamna ah ka oh o haih kawng to ni ka taphong o.
6Vì Đức Chúa Trời, là Đấng có phán: Sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm! đã làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng tôi, đặng sự thông biết về vinh hiển Đức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Đức Chúa Jêsus Christ.
6Sithaw mah, Kaving thung hoiah aanghaih om nasoe, tiah lokpaek. Sithaw lensawkhaih loe Jesu Kri ah oh, tiah na panoek thai hanah, aicae palung thungah aanghaih to paek.
7Nhưng chúng tôi đựng của quí nầy trong chậu bằng đất, hầu cho tỏ quyền phép lớn dường ấy là bởi Đức Chúa Trời mà ra, chớ chẳng phải bởi chúng tôi.
7Toe lensawk thacakhaih loe kaicae ih na ai ni, Sithaw khae hoiah ni angzoh, kaicae loe long laom thungah suek ih tacong baktiah ni ka oh o.
8Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế nhưng không ngã lòng;
8Ahmuen kruekah raihaih ka tongh o, toe kam ro o ai; anghmanghaih hoiah kho ka sak o, toe palung ka boeng o ai;
9bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất.
9pacaekthlaekhaih ka tongh o, toe ka toengh o sut ai; kam timh o, toe kam ro o ai;
10Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi.
10Jesu hinghaih kaicae takpum nuiah amtueng thai toeng hanah, Angraeng Jesu duekhaih kawng to takpum ah ka phawh o poe.
11Bởi chúng tôi là kẻ sống, vì cớ Đức Chúa Jêsus mà hằng bị nộp cho sự chết, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng được tỏ ra trong xác thịt hay chết của chúng tôi;
11Kadueh thaih kaicae taksa ah Jesu hinghaih amtueng thai hanah, kahing kaicae loe Jesu Kri pongah duek hanah danpaekhaih ka tongh o toepsoep.
12vậy thì sự chết làm trong chúng tôi, còn sự sống trong anh em.
12To tiah duekhaih mah kaicae thungah toksak, toe nangcae thungah loe hinghaih mah toksak.
13Vì chúng tôi có đồng một lòng tin, y như lời Kinh Thánh rằng: Ta đã tin, cho nên ta nói, cũng vậy, chúng tôi tin, cho nên mới nói,
13Ka tang pongah, ka thuih, tiah tarik ih oh; to baktih tanghaih palung to ka tawnh o, tanghaih ka tawnh o pongah, ka thuih o;
14vì biết rằng Đấng đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại, cũng sẽ làm cho chúng tôi sống lại với Đức Chúa Jêsus, và làm cho chúng tôi ứng hầu với anh em trước mặt Ngài.
14Sithaw mah Angraeng Jesu duekhaih thung hoiah pathawk baktih toengah, kaicae doeh Jesu rang hoiah pathawk ueloe, nangcae hoi nawnto angmah hmaa ah na caeh haih tih, tiah ka panoek o.
15Bởi chưng mọi điều đó xảy đến vì cớ anh em, hầu cho ân điển rải ra cách dư dật, khiến sự tạ ơn nơi nhiều người hơn cũng dư dật, mà thêm vinh hiển cho Đức Chúa Trời.
15Paroeai kaminawk mah Sithaw tahmenhaih to panoek o moe, Sithaw lensawkhaih pakoeh o thai hanah, hmuennawk boih nangcae han ih ni oh.
16Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn.
16To pongah tha ka zok o ai; a nui kaom taksa kami hae amro cadoeh, a thungah kaom kami loe ni thokkruek kangtha ah oh.
17Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên,
17Atue setta thung a tongh o ih tetta pacaekthlaekhaih mah, aicae hanah kahoih parai, dungzan lensawkhaih to ohsak;
18bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy.
18to pongah kaicae loe kamtueng hmuennawk to ka dan o ai, kamtueng ai hmuennawk to ni ka dan o: ka hnuk o ih hmuennawk loe nawnetta hanah ni oh; toe hnuk ai ih hmuennawk loe dungzan khoek to cak poe.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.