II Cô 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Oâi! Chớ chi anh em dung chịu sự rồ dại của tôi một ít! Phải, anh em nên dung chịu.
1Kam thuhaih to nawnetta thung nang pauep pae o thai hanah ka koeh: pauep doeh nang pauep pae o boeh.
2Vì về anh em, tôi rất sốt sắng như sự sốt sắng của Đức Chúa Trời, bởi tôi đã gả anh em cho một chồng mà thôi, dâng anh em như người trinh nữ tinh sạch cho Đấng Christ.
2Kacuem nongpata maeto ka hamh baktiah, Kri ah kang hamh o boeh pongah, nangcae to Sithaw uthaih palungthin hoiah kang khet o.
3Nhưng tôi ngại rằng như xưa Ê-va bị cám dỗ bởi mưu chước con rắn kia, thì ý tưởng anh em cũng hư đi, mà dời đổi lòng thật thà tinh sạch đối với Đấng Christ chăng.
3Toe pahui mah athlaeng koehhaih palung hoiah Evi to aling baktih toengah, na poek o haih to amro ving ueloe, Kri poekciimhaih anghmaa moeng tih, tiah zithaih ka tawnh.
4Vì nếu có người đến giảng cho anh em một Jêsus khác với Jêsus chúng tôi đã giảng, hoặc anh em nhận một Thánh Linh khác với Thánh Linh anh em đã nhận, hoặc được một Tin Lành khác với Tin Lành anh em đã được, thì anh em chắc dung chịu!
4Kami maeto mah nangcae khaeah kang thui o vai ai ih kalah Jesu kawng to thuih naah, na talawk o vai ai ih kalah muithla to na talawk o moe, na talawk o vai ai ih kahoih tamthanglok doeh na talawk o nahaeloe, nangcae loe kalah tamthanglok, kalah Jesu hoi kalah muithla tapom kami ah ni na oh o.
5Nhưng tôi tưởng rằng dầu các sứ đồ ấy tôn trọng đến đâu, tôi cũng chẳng thua kém chút nào.
5Kai loe kalen koek patoeh ih kaminawk pongah ahnaem kue, tiah ka poek ai.
6Về lời nói, tôi dầu là người thường, nhưng về sự thông biết, tôi chẳng phải là người thường: đối với anh em, chúng tôi đã tỏ điều đó ra giữa mọi người và trong mọi sự.
6Kai loe lok kanaem apae thai ai, toe panoekhaih tawn ai kami na ai ni; nangcae khaeah hmuen boih kam tueng o sak boeh.
7Tôi đã rao giảng Tin Lành của Đức Chúa Trời cho anh em một cách nhưng không, hạ mình xuống cho anh em được cao lên, vậy thì tôi có phạm lỗi gì chăng?
7Nangcae pakoeh ah oh thai hanah, kaimah hoi kaimah kahnaem ah kho ka sak moe, kahoih Sithaw tamthanglok to azom ah kang thuih o pongah, zaehaih ka tawnh maw?
8Tôi đã nhận lương hướng, vét lấy của Hội thánh khác đặng giúp việc anh em.
8Nangcae khaeah tok ka sak thai hanah, kalah kricaabunawk abomhaih to ka talawk.
9Khi tôi ở cùng anh em, gặp phải lúc thiếu thốn, thì không lụy đến ai cả; vì các anh em ở xứ Ma-xê-đoan đến, đã bù lại sự thiếu thốn cho tôi. Không cứ việc gì, tôi đã giữ mình cho khỏi lụy đến anh em, tôi lại cũng sẽ giữ mình như vậy nữa.
9Nangcae khaeah ka oh moe, angaihaih ka tawnh naah, mi kawbaktih doeh raihaih ka paek ai: Macedonia prae hoi angzo nawkamyanawk mah ni kang toenghaih to ang paek o: kalaem tangcae atue ah hmuen boih ah raihaih kang paek o ai baktih toengah, hmabang atue ah doeh to tiah ni ka oh poe han.
10Như chắc rằng sự chân thật của Đấng Christ ở trong tôi, thì trong các miền xứ A-chai không ai cất lấy sự tôi khoe mình đó được.
10Loktang Kri to ka thungah oh pongah, Akaia prae thung ih mi kawbaktih mah doeh kam oekhaih hae pakaa thai mak ai.
11Sao vậy? Vì tôi không yêu anh em chăng? Đã có Đức Chúa Trời biết!
11Tipongah? Nangcae kang palung o ai pongah maw? Sithaw mah panoek.
12Song điều tôi làm, tôi còn làm nữa, để cất mọi mưu của kẻ tìm mưu, hầu cho trong những sự họ lấy mà khoe mình, chẳng có một sự nào trổi hơn chúng tôi được.
12Kaicae doeh kamoek nihcae baktiah ni tok ka sak o toeng, tiah nihcae mah thuih o thai han ai ah, ka sak ih tok baktiah ni ka sak poe han.
13Vì mấy người như vậy là sứ đồ giả, là kẻ làm công lừa dối, mạo chức sứ đồ của Đấng Christ.
13To kaminawk loe angsahcop patoeh ih kami, minawk aling thaih toksah kami, Kri mah patoeh ih kami baktiah angmacae hoi angmacae angsahcop kaminawk ni.
14Nào có lạ gì, chính quỉ Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng.
14Dawnrai han om ai; Setan angmah mataeng doeh aanghaih van kami baktiah angsak toeng to loe!
15Vậy thì những kẻ giúp việc nó mạo làm kẻ giúp việc công bình cũng chẳng lại gì; nhưng sự cuối cùng họ sẽ y theo việc làm.
15To pongah Setan toksah kaminawk mah toenghaih toksah kami baktiah angsak o naah dawnrai han om ai; hnukkhuem ah nihcae loe a sak o ih tok baktih toengah atho to hnu o tih.
16Tôi lại nói rằng: chớ có ai xem tôi như kẻ dại dột; nếu vậy thì hãy nhận tôi như kẻ dại dột, hầu cho tôi cũng khoe mình ít nhiều.
16Ka thuih let bae, mi mah doeh kai hae kamthu ah poek hmah nasoe; kamthu ah nang poek o nahaeloe, kamthu baktiah zetta kam oek han vop.
17Điều tôi nói, là khi tôi lấy sự quả quyết dường ấy mà khoe mình, thì chẳng phải nói theo Chúa song như kẻ dại dột vậy.
17Amoekhaih lok ka thuih naah, Angraeng ih lok baktiah ka thui ai, amthu baktiah ni ka thuih.
18Bởi có nhiều người khoe mình theo xác thịt, tôi cũng sẽ khoe mình.
18Paroeai kaminawk mah long taksa ah amoek o baktih toengah, kai doeh kam oek toeng han vop.
19Vì anh em là kẻ khôn ngoan lại vui mừng dung chịu kẻ dại dột.
19Nangcae loe palung na ha o pongah, amthu kaminawk nuiah pauephaih na tawnh o.
20Phải, anh em hay chịu người ta bắt mình làm tôi tớ, hay là nuốt sống, hay là cướp bóc, hay là tự cao mà khinh dể anh em, vả trên mặt anh em.
20Nangcae tamna ah suem kami, nangcae zaw kami, nangcae ih hmuen lomh kami, amoek kami, mikhmai ah tabaeng kaminawk nuiah mataeng doeh pauephaih na tawnh o.
21Tôi làm hổ thẹn cho chúng tôi mà nói lời nầy, chúng tôi đã tỏ mình ra là yếu đuối. Nhưng, ví bằng có ai dám khoe mình về sự gì tôi nói như kẻ dại dột thì tôi cũng dám khoe mình.
21Kaicae loe to tiah ka pauep o thai ai, tiah kasae thuihaih oh pongah, to baktih hmuen ah loe tha ka zok o, azat doeh thoh parai. Toe mi kawbaktih mah doeh amoekhaih lok to thui nahaeloe (kamthu baktiah ni ka thuih,) kai doeh kam oek thai toengh.
22Họ là người Hê-bơ-rơ phải chăng? Tôi cũng vậy. Họ là người Y-sơ-ra-ên phải chăng? Tôi cũng vậy. Họ là dòng dõi của Aùp-ra-ham phải chăng? Tôi cũng vậy.
22Nihcae loe Hebru kami ah maw oh o? Kai doeh Hebru kami toeng ni. Nihcae loe Israel kami ah maw oh o? Kai doeh Israel kami toeng ni. Nihcae loe Abraham ih acaeng ah maw oh o? Kai doeh Abraham ih acaeng toeng ni.
23Họ là kẻ hầu việc của Đấng Christ phải chăng? ã, tôi nói như kẻ dại dột, tôi lại là kẻ hầu việc nhiều hơn! Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đòi phen tôi gần phải bị chết;
23Nihcae loe Kri toksah kami ah maw oh o? (kamthu baktiah ka thuih) nihcae pongah tok ka sak kue; nihcae pong kamthlai ah toksah kami, paroeai bohhaih tongh kami, vaihi hoi vaihi thong krah kami, duek han khoek to raihaih tongh kami ah ka oh.
24năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục;
24Judahnawk mah vai pangato ang boh o, quipalito akoep hanah vaito khue ni boh han angai boeh.
25ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm.
25Thingboeng hoiah vai thumto ang boh o, thlung hoiah vaito ang vah o, tuipui thungah palong mah vai thumto ang palet, tuipui thungah nito pacoeng, qumto ka oh.
26Lại nhiều lần tôi đi đường nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối;
26Kholong ka caehhaih pop pongah, vapui angkat thai ai raihaih, mingcahnawk mah paek ih raihaih, kaimah ih kaminawk mah paek ih raihaih, Sithaw panoek ai kaminawk mah paek ih raihaih, vangpui thungah ka tong ih raihaih, praezaek ah ka tong ih raihaih, tuipui ah ka tong ih raihaih, nawkamya ah angsah kaminawk mah paek ih raihaihnawk to vaihi hoi vaihi ka tong.
27chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ.
27Tha kana angpho qawt hoiah tok ka sak moe, vaihi hoi vaihi iip thai ai ah ohhaih, zok kamthlam tui kanghae ah ohhaih, buhcaa ai ah ohhaih, siktue naah bangkrai ah ohhaihnawk to ka tongh.
28Còn chưa kể mọi sự khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội thánh.
28To baktih hmuennawk ka tongh pacoengah doeh, kricaabunawk boih to ka mawnhhaih pongah, ni thokkruek hmuen kazit mah ang taeh.
29Nào có ai yếu đuối mà tôi chẳng yếu đuối ư? Nào có ai vấp ngã mà tôi chẳng như nung như đốt ư?
29Minawk thazok o naah, kai loe thazok ai kami ah maw ka oh? Minawk zaehaih thungah amtimh o naah, palung ka phui ai maw?
30Vì phải khoe mình, thì tôi sẽ khoe mình về sự yếu đuối tôi.
30Kam oek han angaih nahaeloe, ka thazokhaih hmuen ah ni kam oek han.
31Đức Chúa Trời là Cha Đức Chúa Jêsus, là Đấng đáng ngợi khen đời đời vô cùng, biết rằng tôi không nói dối đâu.
31Lok kam lai ai, tito dungzan tahamhoihaih, aicae Angraeng Jesu Kri ih Ampa, Sithaw mah panoek.
32ỳ thành Đa-mách, quan tổng đốc của vua A-rê-ta giữ thành của người Đa-mách để bắt tôi.
32Siangpahrang Areta ukhaih thungah kaom, Damaska vangpui ukkung mah, kai naeh hanah Damaska vangpui to toepsak naah;
33Có người từ cửa sổ dòng tôi xuống, bằng một cái giỏ, dọc theo lưng thành, ấy vậy là tôi thoát khỏi tay họ.
33kai loe benthang thungah ang pacaeng o, thokbuem hoiah ang pakhrak o moe, vangpui pakaahaih tapang hoiah ang humh o sak, to naah ni anih ban thung hoiah ka loih vop.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.