Thi
Chapter 78
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi dân sự ta, hãy lắng tai nghe luật pháp ta; Hãy nghiêng tai qua nghe lời của miệng ta.
1Aw kai ih kaminawk, kang patuk ih kaalok ah naa to patueng oh loe, ka pakha hoi tacawt loknawk hae tahngai oh.
2Ta sẽ mở miệng ra nói thí dụ, Bày ra những câu đố của đời xưa,
2Patahhaih hoiah pakha to ka paongh moe, canghnii ah thuih ih kathuk loknawk to kang thuih o han,
3Mà chúng ta đã nghe biết, Và tổ phụ chúng ta đã thuật lại cho chúng ta.
3to loknawk loe aicae ampanawk mah aicae khaeah thuih o boeh, aicae mah a thaih o moe, a panoek o boeh.
4Chúng ta sẽ chẳng giấu các điều ấy cùng con cháu họ, Bèn sẽ thuật lại cho dòng dõi hậu lai những sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, Quyền năng Ngài, và công việc lạ lùng mà Ngài đã làm.
4Nihcae ih caanawk khaeah kang phat pae o mak ai; Angraeng saphawhaih, a thacakhaih, a sak ih dawnrai hmuennawk loe, angzo han koi adung kaminawk khaeah amtuengsak tih.
5Ngài đã lập chứng cớ nơi Gia-cốp, Định luật pháp trong Y-sơ-ra-ên, Truyền dặn tổ phụ chúng ta phải dạy nó lại cho con cháu mình;
5Jakob acaeng hanah lok a paek, Israel caanawk khaeah kaalok to a caksak, anih mah aicae ampanawk khaeah, na caanawk han patuk o patoeng ah:
6Hầu cho dòng dõi hậu lai, tức là con cái sẽ sanh, Được biết những điều đó, Rồi phiên chúng nó truyền lại cho con cháu mình;
6angzo han koi nawktanawk hoi tapen han koi nawktanawk mah doeh panoek o moe, a caanawk khaeah thuih pae o patoeng hanah,
7Hầu cho chúng nó để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, Không hề quên các công việc Ngài, Song gìn giữ các điều răn của Ngài,
7Sithaw to oep o moe, Sithaw mah sak ih hmuennawk to pahnet ai ah, a paek ih loknawk to pazui o hanah, lokthui pae ah:
8Để chúng nó chẳng như tổ phụ mình, Là một dòng dõi cố chấp phản nghịch, Chẳng dọn lòng cho chánh đáng, Có tâm thần không trung tín cùng Đức Chúa Trời.
8nihcae loe palung thah o moe, laisaep o thaih, poek toeng ai kami, Sithaw oephaih muithla tawn ai, ampanawk baktiah om o ai.
9Con cháu Eùp-ra-im cầm binh khí và giương cung, Có xây lưng lại trong ngày chiến trận.
9Ephraim caanawk loe kalii avak o moe, misa to tuk o, toe hnukbangah amlaem o let.
10Chúng nó không gìn giữ giao ước của Đức Chúa Trời, Cũng không chịu đi theo luật pháp Ngài,
10Nihcae loe Sithaw lokmaihaih to pakuem o ai, anih mah paek ih kaalok to pazui han koeh o ai.
11Quên những việc làm của Ngài, Và các công tác lạ lùng mà Ngài đã tỏ cho chúng nó thấy.
11Nihcae loe anih mah sak ih toknawk hoi nihcae khaeah amtuengsak ih dawnrai hmuennawk to pahnet o.
12Tại trong xứ Ê-díp-tô, nơi đồng bằng Xô-an, Ngài làm những phép lạ trước mặt tổ phụ chúng nó.
12Izip prae, Zoan ah ampanawk hmaa ah anih mah dawnrai hmuennawk to sak pae.
13Ngài rẽ biển ra, làm cho họ đi ngang qua, Khiến nước dựng lên như một đống.
13Anih mah tuipui to pakhoih moe, tui to angkatsak; tuinawk to tapang baktiah angdoetsak.
14Ngài dẫn dắt họ, ban ngày bằng áng mây, Trọn ban đêm bằng ánh sáng lửa.
14Khodai ah tamai hoiah a zaeh, khoving ah aqum puek hmaithaw hoiah a hoih.
15Ngài bửa hòn đá ra trong đồng vắng, Ban cho họ uống nước nhiều như từ vực sâu ra.
15Praezaek ah lungsongnawk to boh moe, tuipui baktiah pop parai tui to nihcae hanah a paek.
16Ngài cũng khiến suối từ hòn đá phun ra, Và làm cho nước chảy ra như sông.
16Thlung thung hoiah tui to tacawtsak moe, tuinawk to vapui baktiah a longsak.
17Dầu vậy, họ cứ phạm tội cùng Ngài, Phản nghịch cùng Đấng Chí cao trong đồng vắng.
17Toe nihcae loe anih nuiah zaehaih to sak o aep, Kasang koek to praezaek ah laisaep o thuih vop.
18Trong lòng họ thử Đức Chúa Trời, Mà cầu xin đồ ăn theo tình dục mình.
18Angmacae zok kamthlam dipsak han ih khue ni Sithaw to tanoek o.
19Họ nói nghịch cùng Đức Chúa Trời, Mà rằng: Đức Chúa Trời há có thể dọn bàn nơi đồng vắng sao?
19Ue, nihcae loe Sithaw aekhaih lok to thuih o; praezaek ah Sithaw mah caboi na baih pae tang tih maw? tiah a thuih o.
20Kìa, Ngài đã đập hòn đá, nước bèn phun ra, Dòng chảy tràn; Ngài há cũng có thể ban bánh sao? Ngài há sẽ sắm sửa thịt cho dân Ngài ư?
20Khenah, thlung a boh naah, tui to tacawt moe, pop parai vacong tui ah longh; takaw doeh na paek thai tih maw? Angmah ih kaminawk hanah moi doeh paek thai tih maw? tiah a thuih o.
21Vì vậy Đức Giê-hô-va có nghe bèn nổi giận; Có lửa cháy nghịch cùng Gia-cốp, Sự giận nổi lên cùng Y-sơ-ra-ên;
21Angraeng mah to lok to thaih naah, palungphui; Jakob acaengnawk to hmai mah kangh moe, Israel caanawk nuiah palungphuihaih to phak,
22Bởi vì chúng nó không tin Đức Chúa Trời, Cũng chẳng nhờ cậy sự cứu rỗi của Ngài.
22tipongah tih nahaeloe nihcae loe Sithaw tang o ai, anih ih pahlonghaih ah doeh oephaih to tawn o ai.
23Dầu vậy, Ngài khiến các từng mây trên cao, Và mở các cửa trời,
23Toe anih mah ranui ih tamai to lokpaek moe, van thoknawk to amongh,
24Cho mưa ma-na xuống trên họ đặng ăn, Và ban cho lúa mì từ trên trời.
24caak hanah nihcae nuiah manna kho to angzoh pae; nihcae hanah van takaw to a paek.
25Người ta ăn bánh của kẻ mạnh dạn; Ngài gởi cho họ đồ ăn đầy đủ.
25Kaminawk loe vankaminawk ih buh to caak o; nihcae zok amhah hanah caaknaek to a paek.
26Ngài khiến gió đông thổi trên trời, Nhờ quyền năng mình Ngài dẫn gió nam.
26Ni angyae bang ih takhi to van ah a songsak moe, a thacakhaih hoiah aloih bang ih takhi to a songsak.
27Ngài khiến mưa thịt trên chúng nó như bụi tro, Và chim có cánh cũng nhiều như cát biển;
27Maiphu baktiah moi to kho ah angzohsak, tuipui taeng ih savuet baktiah tavaanawk to azawksak.
28Ngài làm các vật đó sa xuống giữa trại quân, Khắp xung quanh nơi ở chúng nó.
28A sak o ih im salak hoi nihcae ataihaih ahmuen taengah a kraksak.
29Như vậy chúng nó ăn, được no nê chán lán, Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó ước ao.
29Nihcae koeh ih baktiah anih mah paek pongah, nihcae loe caak o moe, zok amhah o.
30Chúng nó chưa xây khỏi điều mình ước ao, Vật thực hãy còn trong miệng chúng nó,
30A koeh o ih buhcaakhaih to angkhoe o ai vop, buh a caak o li naah,
31Bèn có cơn giận của Đức Chúa Trời nổi lên cùng chúng nó, Giết những kẻ béo hơn hết, Đánh hạ những người trai trẻ của Y-sơ-ra-ên.
31Sithaw palungphuihaih to nihcae nuiah phak, nihcae thungah kathawk koek kami to anih mah hum pae ving; a qoih o ih Israel thendoengnawk to dueksak.
32Mặc dầu các sự ấy, chúng nó còn phạm tội, Không tin các công việc lạ lùng của Ngài.
32Hae baktih hmuennawk boih a tongh o, toe anih mah sak ih dawnrai hmuennawk to tang o ai, zaehaih to a sak o toeng toeng vop.
33Vì cớ ấy Ngài làm cho các ngày chúng nó tan ra hư không, Dùng sự kinh khiếp làm tiêu các năm chúng nó.
33To pongah nihcae ih ani to azom pui ah laemsak moe, saningnawk to raihaih hoiah boengsak.
34Khi Ngài đánh giết chúng nó, chúng nó bèn cầu hỏi Ngài, Trở lại tìm cầu Đức Chúa Trời cách sốt sắng.
34Sithaw mah nihcae to hum naah, kalah kaminawk loe amlaem o let moe, Sithaw to palung tang hoiah pakrong o.
35Chúng nó bèn nhớ lại rằng Đức Chúa Trời là hòn đá của mình, Đức Chúa Trời Chí cao là Đấng cứu chuộc mình.
35Sithaw loe angmacae ih lungsong, Kasang koek loe angmacae pahlongkung ah oh, tiah nihcae mah panoek o.
36Nhưng chúng nó lấy miệng dua nịnh Ngài, Dùng lưỡi mình nói dối với Ngài.
36Toe pakha hoiah ni anih to pakoeh o, anih khaeah palai hoi amsawnlok to a thuih o.
37Vì lòng chúng nó chẳng khắn khít cùng Ngài, Chúng nó cũng không trung tín trong sự giao ước Ngài.
37Anih khaeah poek toenghaih tawn o ai, a sak o ih lokkamhaih nuiah doeh oephaih tawn o ai.
38Nhưng Ngài, vì lòng thương xót, tha tội ác cho, chẳng hủy diệt chúng nó: Thật, nhiều khi Ngài xây cơn giận Ngài khỏi, chẳng nổi giận đến cực k”.
38Toe anih loe tahmenhaih hoiah koi pongah, nihcae zaehaih to tahmen pae, nihcae to amrosak ai: ue, pop parai palungphuihaih to anih mah pauep, palung a phuihaih to amtuengsak ai.
39Ngài nhớ lại chúng nó chẳng qua là xác thịt, Một hơi thở qua, rồi không trở lại.
39Sithaw mah nihcae loe taksa ah ni oh o, kalaem tangcae amlaem let thai ai takhi ah ni oh o, tiah panoek.
40Biết mấy lần chúng nó phản nghịch cùng Ngài nơi đồng vắng, Và làm phiền Ngài trong chỗ vắng vẻ!
40Anih to praezaek ah vai nazetto maw laisaep o thuih moe, taw ah nazetto maw palungset o sak?
41Chúng nó lại thử Đức Chúa Trời, Trêu chọc Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên.
41Ue, nihcae loe hnukbangah amlaem o moe, Sithaw to tanoek o, Israel Ciimcai Kami to palungphui o sak.
42Chúng nó không nhớ lại tay của Ngài, Hoặc ngày Ngài giải cứu chúng nó khỏi kẻ hà hiếp;
42Anih thacakhaih to nihcae mah panoek o ai, anih mah misa ban thung hoi pahlonghaih to panoek o ai.
43Thể nào Ngài đặt các dấu lạ mình tại Ê-díp-tô, Và những phép k” mình trong đồng Xô-an;
43Izip prae ah sak ih angmathaih, Zoan ah sak ih dawnrai hmuennawk;
44Đổi ra huyết các sông Và các dòng nước chúng nó, đến đỗi không thế uống được.
44nihcae mah tui naek o thaih han ai ah, vapuinawk hoi vacongnawk to athii ah angcoengsak.
45Ngài sai muỗi cắn nuốt họ, Và ếch làm hại chúng nó;
45Nihcae kaek hanah taksaenawk to prawt pae moe, nihcae amrosak hanah ukongnawk to patoeh.
46Cũng phó hoa lợi chúng nó cho châu chấu, Nộp bông trái công lao họ cho cào cào.
46Nihcae ih thingthai qumponawk loe langkawk hanah paek moe, nihcae ih hmuennawk doeh pakhu hanah a paek.
47Ngài phá vườn nho chúng nó bằng mưa đá, Hủy cây sung họ bằng tuyết giá;
47Nihcae ih misurkungnawk to qaetui hoiah dueksak moe, thaiduetkungnawk doeh dantui hoiah dueksak.
48Cũng phó trâu bò chúng nó cho mưa đá, Và nộp bầy chiên họ cho sấm sét.
48Sithaw mah nihcae ih maitawnawk to qaetui hanah paek moe, tuunawk doeh hmai hanah paek pae.
49Ngài thả nghịch chúng nó cơn giận dữ Ngài, Sự thạnh nộ, sự nóng nả, và gian truân, Tức là một lũ sứ tai họa.
49Anih palungphuihaih tha hoiah nihcae khaeah kasae vankaminawk to patoeh moe, palungbethaih, palung hmai amngaehhaih hoi raihaihnawk to ohsak.
50Ngài mở lối cho cơn giận Ngài, Chẳng dong thứ linh hồn họ khỏi chết, Bèn phó mạng sống chúng nó cho dịch hạch;
50Palungphuihaih loklam to a sak; nihcae ih pakhra paduek hanah paawt ai, nihcae hinghaih to nathaih kasae khaeah a paek.
51Cũng đánh giết mọi con đầu lòng trong Ê-díp-tô, Tức là cường-tráng sanh đầu ở trong các trại Cham.
51Izip prae ah calunawk boih, Ham ih kahni imthung ah kaom thacak tangsuekhaih calu koek to paduek pae boih.
52Đoạn Ngài đem dân sự Ngài ra như con chiên. Dẫn dắt họ trong đồng vắng như một bầy chiên.
52Toe angmah ih kaminawk loe tuu baktiah a huih moe, tuunawk baktiah praezaek ah a caeh haih.
53Ngài dẫn chúng nó bình an vô sự, chúng nó chẳng sợ chi: Còn biển lấp lại những kẻ thù nghịch họ.
53Misa ban thung hoi loih hanah anih mah zaeh pongah, nihcae loe zii o ai; toe nihcae ih misanawk loe tuipui mah khuk khoep.
54Ngài đưa họ đến bờ cõi thánh Ngài, Tức đến núi mà tay hữu Ngài đã được.
54Nihcae to kaciim ahmuen angzithaih ramri khoek to, a bantang ban hoiah lak ih mae karoek to a caeh haih.
55Ngài cũng đuổi các dân khỏi trước mặt chúng nó, Bắt thăm và chia xứ làm sản nghiệp cho họ, Khiến các chi phái Y-sơ-ra-ên ở trong trại của các dân ấy.
55Nihcae hmaa ah Sithaw panoek ai kaminawk to a haek pae, qawk ah toep ih long to tah o moe, amzet o, Israel caanawk loe imsak o moe, to ah oh o.
56Dầu vậy, chúng nó thử và phản nghịch Đức Chúa Trời Chí cao, Không giữ các chứng cớ của Ngài;
56Toe nihcae mah Kasang koek Sithaw to tanoek o moe, laisaep o thuih, a thuih ih lok to tahngai o ai.
57Nhưng trở lòng, ở bất trung như các tổ phụ mình: Chúng nó sịa như cây cung sai lệch.
57Nihcae loe ampanawk baktiah oep om o ai, hnukbangah angnawn o; oepthok ai palaa baktiah lam amkhraeng o.
58Nhân vì các nơi cao, chúng nó chọc giận Ngài, Giục Ngài phân bì tại vì những tượng chạm.
58Nihcae mah kasang ahmuennawk hoiah anih to palungphui o sak moe, sakcop ih krangnawk hoiah uthaih palung to tacawt o sak.
59Khi Đức Chúa Trời nghe điều ấy, bèn nổi giận, Gớm ghiếc Y-sơ-ra-ên quá đỗi;
59Sithaw mah thaih naah, palungphui moe, Israel caanawk to paroeai panuet,
60Đến nỗi bỏ đền tạm tại Si-lô, Tức là trại Ngài đã dựng giữa loài người;
60kaminawk salakah kaom, Shiloh ih kahni im doeh a caeh taak,
61Phó sức lực Ngài bị dẫn tù, Và nộp vinh hiển Ngài vào tay cừu địch.
61a thacakhaih to tamna ah caehsak moe, a lensawkhaih to misa banah a paek.
62Ngài cũng phó dân sự Ngài cho bị thanh gươm, Và nổi giận cùng cơ nghiệp mình.
62Angmah ih kaminawk to sumsen hoi hum hanah a paek; a toep han ih qawk nuiah kating ai palungphui.
63Lửa thiêu nuốt những gã trai trẻ họ, Còn các nữ đồng trinh không có ai hát nghinh thú.
63Nihcae ih thendoengnawk to hmai mah kangh pae; nihcae ih tanglanawk doeh sava sah o ai.
64Những thầy tế lễ họ bị gươm sa ngã, Song các người góa bụa không than khóc.
64Angmacae ih qaimanawk doeh sumsen hoiah duek o; lamhmainawk doeh qah o ai boeh.
65Bấy giờ Chúa tỉnh thức như người khỏi giấc ngủ, Khác nào kẻ mạnh dạn reo la vì cớ rượu.
65To naah Angraeng loe iih kangthawk baktih, misurtui pongah kahang thacak kami baktiah angthawk.
66Ngài hãm đánh những kẻ cừu địch lui lại, Làm cho chúng nó bị sỉ nhục đời đời.
66Angmah ih misanawk to a tuk moe, dungzan khoek to azatsak.
67Vả lại, Ngài từ chối trại Giô-sép, Cũng chẳng chọn chi phái Eùp-ra-im;
67Joseph ih kahni im to a maak pae, Ephraim acaeng doeh qoi ai,
68Bèn chọn chi phái Giu-đa, Là núi Si-ôn mà Ngài yêu mến.
68toe Judah acaeng, angmah palung ih, Zion mae to anih mah qoih.
69Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi rất cao, Khác nào trái đất mà Ngài đã sáng lập đời đời.
69Angmah ih hmuenciim to hmuen sang baktiah a sak moe, dungzan khoek to caksak ih long baktih a ohsak.
70Ngài cũng chọn Đa-vít là tôi tớ Ngài, Bắt người từ các chuồng chiên:
70A tamna David to qoih, tuu imthung hoiah anih to a lak;
71Ngài đem người khỏi bên các chiên cho bú, Đặng người chăn giữ Gia-cốp, là dân sự Ngài, Và Y-sơ-ra-ên, là cơ nghiệp Ngài.
71angmah ih kami Jakob acaeng hoi angmah ih qawk ah kaom Israel acaeng to khetzawn hanah, caa kaom tuu amnonawk toephaih thung hoiah ni anih to qoih.
72Như vậy, người chăn giữ họ theo sự thanh liêm lòng người, Và lấy sự khôn khéo tay mình mà dẫn dắt họ.
72To pongah toenghaih palungthin hoiah nihcae to a khetzawn moe, palunghahaih ban hoiah nihcae to a hoih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.