Thi 27
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai?
1Angraeng loe ka hmaithaw hoi ka pahlonghaih ah oh; mi maw ka zit han vop? Angraeng loe ka hinghaih tha ah oh, mi maw ka zit bae han vop?
2Khi kẻ làm ác, kẻ cừu địch và thù nghịch tôi, xông vào tôi, Đặng ăn nuốt thịt tôi, Thì chúng nó đều vấp ngã.
2Ka ngan caak hanah, kasae kaminawk kai khaeah angzoh o naah, amthaek o moe, amtimh o.
3Dầu một đạo binh đóng đối cùng tôi, Lòng tôi sẽ chẳng sợ; Dầu giặc giã dấy nghịch cùng tôi, Khi ấy tôi cũng có lòng tin cậy vững bền.
3Misatuh kaminawk mah na takui o khoep cadoeh, ka palung mah zithaih tawn mak ai: misatuk han angzo o cadoeh, angoephaih palungthin to ka tawnh.
4Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy! Aáy là tôi muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê-hô-va, Để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê-hô-va, Và cầu hỏi trong đền của Ngài.
4Angraeng kranghoihaih to ka hnuk moe, anih ih tempul thungah ka oh pacoengah, ka hing thung Angraeng imthung ah ka oh thai hanah, ka koeh ih hmuen maeto Angraeng khaeah ka hnik boeh.
5Vì trong ngày tai họa, Ngài sẽ che khuất tôi trong lều Ngài, Giấu tôi nơi kín mật của trại Ngài; Cũng sẽ đỡ tôi lên trên một hòn đá.
5Raihaih phak naah anih mah angmah ih im ah kai na buepsak tih: angmah ih kahni imthung ah na hawk ueloe, lungsong nuiah anghnusak tih.
6Bây giờ đầu tôi sẽ được ngước cao hơn các kẻ thù nghịch vây quanh tôi; Trong trại Ngài tôi sẽ dâng của lễ bằng sự vui vẻ; Tôi sẽ hát mừng, và ca tụng Đức Giê-hô-va.
6Vaihi kai takui khoep ka misanawk nuiah ka lu hae atoeng tahang tih: to pongah angmah ih kahni imthung ah anghoe angbawnhaih to ka sak han: laa ka sak han, ue, Angraeng khaeah pakoehhaih laa to ka sak han.
7Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nghe; tiếng tôi kêu cầu cùng Ngài: hãy thương xót tôi, và nhậm lời tôi.
7Aw Angraeng, kang kawkhaih lok hae na pathim paeh: na tahmen ah loe na pathim pae raeh.
8Khi Chúa phán rằng: Các ngươi hãy tìm mặt ta; Thì lòng tôi thưa cùng Chúa rằng: Đức Giê-hô-va ôi! tôi sẽ tìm mặt Ngài.
8Ka krang hae pakrong oh, tiah na thuih naah, ka palung mah nang khaeah, Angraeng, na krang ni ka pakrong han, tiah thuih.
9Hỡi Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi tôi, Xin chớ ẩn mặt Chúa với tôi, Chớ xô đuổi kẻ tôi tớ Chúa trong khi Chúa nổi giận. Khi trước Chúa là sự tiếp trợ tôi, xin chớ lìa tôi, chớ bỏ tôi.
9Na mikhmai hawk ving hmah loe, palungphuihaih hoiah na tamna hae haek ving hmah: Aw Sithaw, ka pahlonghaih, kai abomkung loe nang ni; na pahnawt sut hmah loe, na caeh taak hmah.
10Khi cha mẹ bỏ tôi đi, Thì Đức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận tôi.
10Kam pa hoi kam no mah kai pahnawt sut naah, Angraeng mah kai na talawk tih.
11Hỡi Đức Giê-hô-va, xin chỉ dạy tôi con đường Ngài; Nhân vì các kẻ thù nghịch tôi, Xin hãy dẫn tôi vào lối bằng thẳng.
11Aw Angraeng, na loklam to patuek ah; ka misanawk pongah katoeng loklam ah na caeh haih ah.
12Chớ phó tôi cho ý muốn kẻ cừu địch tôi; Vì những chứng dối, Và kẻ buông ra sự hung bạo, đã dấy nghịch cùng tôi.
12Amsawnlok thui kaminawk hoi tahmenhaih tawn ai poeksae kaminawk loe, kai han misa angthawk o thuih pongah, ka misanawk koehhaih baktiah kai hae nihcae khaeah paek hmah.
13Oâi! Nếu tôi không tin chắc rằng sẽ thấy ơn của Đức Giê-hô-va tại đất kẻ sống, Thì tôi hẳn đã ngã lòng rồi!
13Kahing kaminawk ih prae ah, Angraeng hoihhaih to ka hnu tih, tiah tanghaih ka tawn ai nahaeloe, ka palung thazok tih boeh.
14Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va; Hãy vững lòng bền chí! Phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va.
14Angraeng to zing ah: thazok hmah, to tiah nahaeloe anih mah na poekhaih palungthin to thacaksak tih. Angraeng to mah zing ah.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.