Thi
Chapter 69
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Chúa Trời ôi! xin cứu tôi, Vì những nước đã thấu đến linh hồn tôi.
1Aw Sithaw, na pahlong ah, tui loe ka hinghaih khoek to phak boeh.
2Tôi lún trong bùn sâu, nơi không đụng cẳng; Tôi bị chìm trong nước sâu, dòng nước ngập tôi.
2Khok cawhhaih om ai, tangnong thungah ka krak boeh; kathuk parai tui thungah, tui ka uem boeh.
3Tôi la mệt, cuống họng tôi khô; Mắt tôi hao mòn đang khi trông đợi Đức Chúa Trời tôi.
3Ka hang loiah, taaw doeh zaek sut boeh; ka Sithaw, ka khet naah, ka mik doeh amtueng ai boeh.
4Những kẻ ghen ghét tôi vô cớ Nhiều hơn số tóc đầu tôi; Những kẻ làm thù nghịch tôi vô cớ và muốn hại tôi thật mạnh; Tôi phải bồi thường điều tôi không cướp giựt.
4Tidoeh na ai ah kai hnuma kaminawk loe ka lu nui ih sam pongah doeh pop o kue; tidoeh na ai ah kai hum hanah, pakrong ka misanawk loe thacak o parai; ka lak ai ih hmuen to ka paek let.
5Đức Chúa Trời ôi! Chúa biết sự ngu dại tôi, Các tội lỗi tôi không giấu Chúa được.
5Aw Sithaw, kam thuhaih hae nang panoek; ka zaehaihnawk loe na hmaa hoiah hawk thai ai.
6Hỡi Chúa Giê-hô-va vạn quân, Nguyện những kẻ trông đợi Chúa chớ bị hổ thẹn vì cớ tôi; Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! Nguyện kẻ nào tìm cầu Chúa chớ bị sỉ nhục tại vì việc tôi.
6Aw misatuh kaminawk ih Angraeng Sithaw, nang oephaih tawn kaminawk loe, kai pongah palung boenghaih tawn o hmah nasoe; Aw Israelnawk ih Sithaw, nang pakrong kaminawk loe kai pongah azathaih tongh o hmah nasoe.
7Aáy vì Chúa mà tôi đã mang sự nhuốc nhơ, Và bị sự hổ thẹn bao phủ mặt tôi.
7Nang hanah kasaethuihaih ka tongh boeh; azathaih mah ka mikhmai hae khuk khoep boeh.
8Tôi đã trở nên một kẻ lạ cho anh em tôi, Một người ngoại bang cho các con trai mẹ tôi.
8Kai loe kaimah ih nawkamya khaeah angvin ah ka oh moe, kam no ih caanawk khaeah prae kalah kami ah ka oh boeh.
9Vì sự sốt sắng về đền Chúa tiêu nuốt tôi, Sự sỉ nhục của kẻ sỉ nhục Chúa đã đổ trên tôi.
9Nang ih im poekhaih mah kai ang caak boih boeh; nang kasaethui kaminawk mah thuih ih sethaih to ka nuiah krak boeh.
10Tôi khóc và nhịn ăn để ép linh hồn tôi, Thì điều đó cũng trở làm sỉ nhục tôi.
10Buhzah moe, qahhaih hoi lawk ka thuih naah doeh, kai kasae ang thuih o haih to ka pauep vop.
11Tôi lấy bao gai mặc làm áo xống, Bèn trở nên câu tục ngữ cho chúng nó.
11Buri khukbuen kang khuk naah, minawk mah ang pahnuih o thuih.
12Những kẻ ngồi nơi cửa thành trò chuyện về tôi; Tôi là đề câu hát của những người uống rượu.
12Khongkha ah anghnu kaminawk mah kai ang pahnui o thuih; mu paquih kaminawk mah kai han laa ang sak o thuih.
13Nhưng Đức Giê-hô-va ơi, tôi nhờ dịp tiện Mà cầu nguyện cùng Ngài. Đức Chúa Trời ơn, theo sự thương xót lớn của Chúa, Và theo lẽ thật về sự cứu rỗi của Chúa, xin hãy đáp lại tôi.
13AwAngraeng, kai loe talawkhaih atue ah, nang khaeah lawk kang thuih; aw Sithaw, kanoih parai na palungnathaih hoi na pahlonghaih loktang lok hoiah ka lok hae na tahngai pae ah.
14Xin hãy cứu tôi khỏi vũng bùn, kẻo tôi lún chăng; Nguyện tôi được giải thoát khỏi những kẻ ghét tôi, và khỏi nước sâu.
14Tangnong thungah na krahsak hmah, na loihsak ah; kai hnuma kaminawk ban thung hoi na pahlong ah loe, kathuk tui thung hoi na pahlong ah.
15Nguyện dòng nước không ngập tôi, Vực sâu chớ nhận tôi, Hầm không lấp miệng nó lại trên tôi.
15Tuilen mah kai na khuk hmah nasoe, kathuk tui mah na paaeh hmah nasoe, tangqom mah doeh na paaeh hmah nasoe.
16Đức Giê-hô-va ơi, xin hãy đáp lại tôi; vì sự nhân từ Ngài là tốt; Tùy sự thương xót lớn của Ngài, xin hãy xây lại cùng tôi.
16Aw Angraeng, nam lunghaih loe hoih pongah, ka lok hae tahngai ah; kalen na palungnathaih hoiah kai khaeah angqoi raeh.
17Xin Chúa chớ giấu mặt cùng tôi tớ Chúa, vì tôi đang bị gian truân; Hãy mau mau đáp lại tôi.
17Na tamna khaeah na mikhmai hawk ving hmah; raihaih ka tong boeh; karangah na tahngai pae ah.
18Cầu xin Chúa đến gần linh hồn tôi và chuộc nó; Vì cớ kẻ thù nghịch tôi, xin hãy cứu chuộc tôi.
18Ka pakhra khaeah anghnai ah loe, pahlong ah; ka misanawk thung hoiah na pahlong ah.
19Chúa biết sự sỉ nhục, sự hổ thẹn, và sự nhuốt nhơ của tôi: Các cừu địch tôi đều ở trước mặt Chúa.
19Ka tongh ih kasaethuihaih, azathaih hoi ahminsethaih to na panoek; ka misanawk loe ka hmaa ah ni oh o boih.
20Sự sỉ nhục làm đau thương lòng tôi, tôi đầy sự khổ nhọc; Tôi trông đợi có người thương xót tôi, nhưng chẳng có ai; Tôi mong-nhờ người an ủi, song nào có gặp.
20Kasaethuihaih mah kai ih palungthin to koihsak; paroeai palung ka boeng; tahmenhaih tawn kami to ka pakrong, toe mi doeh om ai; pathloepkung to ka pakrong, toe mi doeh ka hnu ai.
21Chúng nó ban mật đắng làm vật thực tôi, Và cho tôi uống giấm trong khi khát.
21Ka caak hanah nihcae mah kakhaa ahmuet to ang paek o; tui kang haeh naah naek hanah misurtui kathaw to ang paek o.
22Nguyện bàn tiệc trước mặt chúng nó trở nên cái bẫy; Khi chúng nó được bình an, nguyện nó lại trở nên cái lưới.
22Nihcae ih caboi loe angmacae hmaa ah thaang ah om nasoe loe, nihcae khosak hoihaih doeh peet ah angcoeng pae nasoe.
23Nguyện mắt chúng nó bị tối, không còn thấy, Và hãy làm cho lưng chúng nó hằng run.
23Nihcae mah hnuk o han ai ah, mik amtueng pae hmah nasoe; nihcae ih kaeng doeh thacak hmah nasoe.
24Hãy đổ cơn thạnh nộ Chúa trên chúng nó. Khiến sự giận dữ Chúa theo kịp họ.
24Nihcae nuiah palung na phuihaih to krai ah loe, na palung bethaih mah nihcae to pha thuih nasoe.
25Nguyện chỗ ở chúng nó bị bỏ hoang, Chẳng có ai ở trong trại chúng nó nữa.
25Nihcae ohhaih ahmuen to pong sut nasoe loe, nihcae ih buk ah mi doeh om hmah nasoe.
26Vì chúng nó bắt bớ kẻ Chúa đã đánh, Và thuật lại sự đau đớn của người mà Chúa đã làm cho bị thương.
26Tipongah tih nahaeloe na boh ih kaminawk to nihcae mah pacaekpathlaek o; nganbawh kana na paek ih kaminawk to kasae a thuih o.
27Cầu xin Chúa hãy gia tội ác vào tội ác chúng nó; Chớ cho chúng nó vào trong sự công bình của Chúa.
27Nihcae sakpazaehaih to zaehaih hoiah patomh pae ah; nihcae loe na toenghaih thungah angzo o hmah nasoe.
28Nguyện chúng nó bị xóa khỏi sách sự sống, Không được ghi chung với người công bình.
28Hinghaih cabu thung hoiah nihcae to phrae ah, nihcae to katoeng kaminawk hoi nawnto tarik hmah.
29Còn tôi bị khốn cùng và đau đớn: Đức Chúa Trời ơn, nguyện sự cứu rỗi của Chúa nâng đỡ tôi lên nơi cao.
29Kai loe amtang pongah, palung ka set boeh; Aw Sithaw, na pahlonghaih mah na sangsak nasoe.
30Tôi sẽ dùng bài hát mà ngợi khen danh Đức Chúa Trời, Và lấy sự cảm tạ mà tôn cao Ngài.
30Kai loe Sithaw ahmin pakoehhaih laa to ka sak han; anghoe lokthuihaih hoiah anih to ka pakoeh han.
31Điều ấy sẽ đẹp lòng Đức Giê-hô-va hơn con bò đực, Hoặc con bò đực có sừng và móng rẽ ra.
31Takii hoi khokpacin kaom, maitaw hoi maitaw tae paek pongah loe hae tiah sakhaih hae Angraeng mah koeh kue tih.
32Những người hiền từ sẽ thấy điều đó và vui mừng; Hỡi các người tìm cầu Đức Chúa Trời, nguyện lòng các ngươi được sống.
32Poek pahnaem kaminawk loe to baktih hmuen to hnu o ueloe, anghoe o tih; Sithaw pakrong kami ih palungthin loe hing tih.
33Vì Đức Giê-hô-va nghe kẻ thiếu thốn, Không khinh dể những phu tù của Ngài.
33Angraeng loe amtang kaminawk ih lok to tahngaih pae; thongkrah angmah ih kaminawk doeh pahnet ai.
34Nguyện trời, đất, biển, Và các vật hay động trong đó, đều ngợi khen Ngài.
34Van hoi long mah anih to saphaw nasoe; tuipui hoi athung ah kaom kangtawt thaih hmuennawk boih mah doeh anih to saphaw o nasoe.
35Vì Đức Chúa Trời sẽ cứu Si-ôn, và xây lại các thành Giu-đa; Dân sự sẽ ở đó, được nó làm của.
35Tipongah tih nahaeloe Zion mae loe Sithaw mah pahlong ueloe, Judah vangpuinawk to sah let tih; to naah nihcae mah la o ueloe, athung ah khosah o tih.
36Dòng dõi các tôi tớ Ngài sẽ hưởng nó làm sản nghiệp; Phàm ai yêu mến danh Ngài sẽ ở tại đó.
36Anih tamnanawk ih caanawk mah doeh to vangpui to toep o tih; ahmin palung kaminawk loe to vang thungah om o tih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.