Thi 68
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Nguyện Đức Chúa Trời chỗi dậy, khiến thù nghịch Ngài tản lạc, Và làm cho những kẻ ghét Ngài phải trốn trước mặt Ngài.
1Sithaw loe angthawk nasoe, anih ih misanawk loe anghaeh o phang nasoe.
2Như khói tỏa thể nào, Chúa sẽ làm tan chúng nó thể ấy; Như sáp tan chảy trước lửa làm sao, Những kẻ ác sẽ bị diệt trước mặt Đức Chúa Trời làm vậy.
2Takhi mah hmaikhue hmuh phaeng baktih toengah, nihcae to hmut phaeng ah; hmai pongah amkaw dui samdai baktiah, kasae kaminawk loe Sithaw hmaa ah anghma angtaa o nasoe.
3Nhưng người công bình sẽ vui vẻ, hớn hở trước mặt Đức Chúa Trời; Phải, họ sẽ nức lòng mừng rỡ.
3Toe katoeng kaminawk loe anghoe o nasoe; nihcae loe Sithaw hmaa ah oep o nasoe; ue, paroeai anghoe o nasoe.
4Hãy hát xướng cho Đức Chúa Trời, hãy ngợi khen danh Ngài; Khá đắp đường cái cho Đấng cỡi ngựa đi ngang qua đồng bằng: Đức Giê-hô-va là danh Ngài; hãy vui mừng trước mặt Ngài.
4Sithaw khaeah laasah oh; ahmin saphawhaih laa to sah oh; tamai nuiah angthueng anih to pakoeh oh; anih ih ahmin loe YAH, anih hmaa ah anghoe oh.
5Đức Chúa Trời ở nơi thánh Ngài, Là Cha kẻ mồ côi, và quan xét của người góa bụa.
5Anih loe ampa tawn ai kaminawk hanah ampa ah oh moe, lamhmainawk bomkung ah oh, Sithaw loe a ohhaih hmuenciim ah oh.
6Đức Chúa Trời làm cho kẻ cô độc có nhà ở, Đem kẻ bị tù ra hưởng được may mắn; Song những kẻ phản nghịch phải ở đất khô khan.
6Sithaw mah angmabueng kaom kami to imthong ah angcoengsak; thongkrah kaminawk doeh a loihsak; toe lok angaek thaih kaminawk loe prae karoem ah oh o.
7Hỡi Đức Chúa Trời, khi Chúa đi ra trước dân Chúa, Và đi tới trong đồng vắng,
7Aw Sithaw, nang loe nangmah ih kaminawk hmaa ah na caeh moe, praezaek hoi na caeh haih naah, Selah;
8Thì đất rúng động, các từng trời đặt ra nước trước mặt Đức Chúa Trời; Núi Si-nai kìa cũng rúng động trước mặt Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
8Sithaw hmaa ah, long to anghuenh, van hoiah kho angzoh; Sinai mae loe Sithaw, Israel Sithaw hmaa ah anghuenh.
9Đức Chúa Trời ơn, Chúa giáng mưa lớn trên sản nghiệp Chúa, Khi nó mệt mỏi Chúa bổ nó lại.
9Aw Sithaw, nangmah pop parai ah kho nang zohsak; thazai sut na qawktoep kaminawk to na bomh boeh.
10Hỡi Đức Chúa Trời, hội Chúa ở tại đó; Vì lòng nhân từ, Chúa sắm sửa vật tốt cho kẻ khốn cùng.
10Nangmah ih kaminawk loe athung ah oh o; Aw Sithaw, na angraenghaih thung hoiah amtang kaminawk to na pacah.
11Chúa truyền mạng lịnh ra: Các người đàn bà báo tin thật một đoàn đông lắm.
11Angraeng mah thuih ih lok taphong kaminawk loe noih o parai:
12Các vua có đạo binh chạy trốn, họ chạy trốn; Còn người đàn bà ở lại trong nhà chia của cướp.
12siangpahrangnawk ih misatuh kaminawk loe, tawt hoiah cawnh o; im ah kaom kaminawk loe lak ih hmuenmaenawk to amzet o.
13Khi các ngươi nằm nghỉ ở giữa chuồng chiên, Thì giống như cánh bò câu bọc bạc, Và lông nó bọc vàng xanh.
13Nangcae loe mae salakah na iih o cadoeh, sumkanglung hoi pazut ih pahuu pakhraeh baktiah na om o ueloe, amuinawk doeh sui rong baktiah ampha tih.
14Khi Đấng toàn năng tản lạc các vua tại đó, Thì xứ trở nên trắng như lúc mưa thuyết tại Sanh-môn.
14Thacak Angraeng mah siangpahrangnawk prae thungah anghaehsak phang naah, Salmon mae nuiah dantui kanglung baktiah oh o.
15Núi Ba-san là núi của Đức Chúa Trời; Núi Ba-san có nhiều chót.
15Sithaw ih mae loe Bashan mae baktiah oh; kasang mae doeh Bashan mae baktiah ni oh.
16Hỡi các núi có nhiều chót, sao các ngươi ngó cách ganh ghét Núi mà Đức Chúa Trời đã chọn làm nơi ở của Ngài? Phải Đức Giê-hô-va sẽ ở tại đó đến đời đời.
16Maesangnawk, athung ah oh hanah Sithaw mah qoih ih mae; ue, dungzan khoek to Angraeng ohhaih mae to, tih hanah uthaih hoiah na khet o loe?
17Xe của Đức Chúa Trời số là hai vạn, Từng ngàn trên từng ngàn; Chúa ở giữa các xe ấy y như tại Si-nai trong nơi thánh.
17Sithaw misatukhaih hrangleeng loe sang pumphaeto oh, vankaminawk loe sangto pacoeng sangto oh o; Angraeng loe nihcae salakah oh, Sinai mae loe angmah ih hmuenciim ah oh.
18Chúa đã ngự lên trên cao, dẫu theo những phu tù; Chúa đã nhận lễ vật giữa loài người, và giữa kẻ phản nghịch cũng vậy, Hầu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời được ở với chúng nó.
18Nang loe hmuensang ah na dawh tahang moe, misong ah naeh ih kaminawk to na hoih tahang; ue, Angraeng Sithaw nihcae salakah oh thaih hanah, kaminawk han khue ai, angaek thaih kaminawk han doeh, tangqum to na talawk pae.
19Đáng ngợi khen Chúa thay, Là Đấng hằng ngày gánh gánh nặng của chúng tôi, Tức là Đức Chúa Trời, sự cứu rỗi của chúng tôi.
19Ni thokkruek aicae ih hmuenzit phaw Angraeng, aicae pahlongkung, Sithaw loe tahamhoihaih om nasoe. Selah .
20Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời giải cứu chúng tôi; Aáy là nhờ Chúa Giê-hô-va mà loài người được tránh khỏi sự chết.
20Anih loe aicae ih Sithaw, pahlonghaih Sithaw ah oh; Angraeng Sithaw loe duekhaih thung hoi loihaih ah oh.
21Nhưng Đức Chúa Trời sẽ đạp nát đầu kẻ thù nghịch Ngài, Đỉnh tóc của kẻ cứ phạm sự gian ác.
21A misanawk ih lu, zaehaih sah kaminawk ih sam kathah lunawk to, caeh taak ai ah Sithaw mah atii tih.
22Chúa đã phán rằng: Từ Ba-san ta sẽ dẫn dân ta về, Đem chúng nó lên khỏi biển sâu;
22Angraeng mah, nihcae to Bashan hoi kang zoh haih let han, kaimah ih kaminawk to kathuk tuipui thung hoiah kang hoih let han,
23Để ngươi dầm chân mình trong huyết, Và lưỡi chó ngươi cũng được phần trong kẻ thù nghịch ngươi.
23na misanawk ih athii to khok hoiah na cawh ueloe, nang ih uinawk mah doeh athii to palaek o tih, tiah thuih.
24Hỡi Đức Chúa Trời, chúng nó đã thấy cách Chúa đi, Tức cách Đức Chúa Trời, là Vua tôi, đi vào nơi thánh.
24Aw Sithaw, hmuenciim ah nang zohhaih to nihcae mah hnuk o boeh, ka Sithaw, ka Siangpahrang angzohhaih to nihcae mah hnuk o boeh.
25Các người hát xướng đi trước, kẻ đàn nhạc theo sau, ỳ giữa có những con gái trẻ đánh trống cơm.
25Laasah kaminawk loe hmabang ah caeh o, katoeng tamoi congca kruek kaminawk hoi nihcae salakah cingceng bop tanglanawk loe, anih hnuk ah bang o.
26Hỡi những kẻ nguyên do nơi Y-sơ-ra-ên mà ra, trong các hội Hãy chúc tụng Đức Chúa Trời, là Chúa.
26Israel kaminawk, kami pop amkhuenghaih ahmuen ah, Sithaw to tahamhoihaih paek oh.
27Kìa, Bê-gia-min nhỏ, là kẻ cai trị chúng nó; Các quan trưởng Giu-đa, và bọn của họ; Các quan trưởng Sa-bu-lôn, và các quan trưởng Nép-ta-li.
27Benjamin acaeng zetta thung hoi ih nihcae zaehoikung, Judah ih angraengnawk, Zebulun ih angraengnawk hoi Nephtali ih angraengnawk to athum o.
28Đức Chúa Trời ngươi đã ban sức lực cho ngươi: Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy khiến vững bền việc Chúa đã làm cho chúng tôi.
28Aw Sithaw, thacaksak ah, Sithaw, kaicae khae na sak ih baktih toengah, na thacakhaih to na patuek ah.
29Bởi cớ đền thờ của Chúa tại Giê-ru-sa-lem, Các vua sẽ đem dâng lễ vật cho Chúa.
29Na tempul loe Jerusalem ah oh pongah, siangpahrangnawk mah nang khaeah tangqum sin o nasoe.
30Xin hãy mắng thú trong lau sậy, Quở đoàn bò đực với những bò con của các dân, Là những người đem nén bạc quì xuống dâng cho, Xin Chúa hãy tản lạc những dân tộc ưa thích sự giặc giã.
30Tuu thung ih kasan moinawk, maitaw taenawk hoi kaminawk ih maitaw caanawk to thuitaek ah, kami boih mah sumkanglung sin o nasoe loe, mi tlim ah om o nasoe; misa koeh kaminawk to anghaehsak phang ah.
31Những công-hầu sẽ từ Ê-díp-tô mà ra; Ê-thi-ô-bi sẽ lật đật giơ tay lên cùng Đức Chúa Trời.
31Laicaehnawk loe Izip prae thung hoiah angzo o tih; Ethiopia loe Sithaw khaeah ban payangh ueloe, ang paek tih.
32Hỡi các nước của đất, hãy hát xướng cho Đức Chúa Trời; Khá hát ngợi khen Chúa,
32Long ih praenawk, Sithaw khaeah laasah oh; Angraeng saphawhaih laa to sah oh, Selah;
33Tức là Đấng cỡi trên các từng trời thái cổ; Kìa, Ngài phát tiếng ra, là tiếng có sức lớn.
33tangsuek hoi vannawk nui ih van angthueng, Anih khaeah, saphawhaih laa to sah oh; khenah, anih mah lok tacawtsak naah, thacak parai lok ah angcoeng.
34Hãy tôn quyền năng cho Đức Chúa Trời: Sự oai nghiêm Ngài ở trên Y-sơ-ra-ên, và quyền năng Ngài ở trong các mây.
34Sithaw loe thacak, tiah thui oh; a lensawkhaih loe Israel caanawk nuiah oh moe, a thacakhaih doeh tamai nuiah amtueng.
35Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa thật đáng sợ trong nơi thánh Chúa: Chính Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ban sức lực và quyền năng cho dân sự Ngài. Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời thay!
35Aw Sithaw, kaciim angmah ih hmuenciimnawk thungah kaom nang loe zitthoh; Israel Sithaw loe, angmah ih kaminawk hanah thacakhaih hoi sakthaihaih paekkung ah oh. Sithaw loe tahamhoihaih om nasoe!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.