Thi 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, tôi nương náu mình nơi Ngài; Xin hãy cứu tôi khỏi kẻ rượt đuổi tôi, và thoát giải tôi,
1Angraeng ka Sithaw, nang khaeah ka buep: kai pacaekthlaek kaminawk boih ban thung hoiah na pahlong ah loe, na loisak ah.
2Kẻo kẻ thù nghịch xé tôi như con sư tử, Và phân tôi từ mảnh, không ai giải cứu cho.
2To tih ai nahaeloe misa mah kaipui baktiah ka hinghaih to asik pet tih boeh.
3Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, nhược bằng tôi đã làm điều ấy, Và có sự gian ác nơi tay tôi;
3Aw Angraeng ka Sithaw, hae hmuen ka sak pongah, ka ban ah zaehaih to oh moeng moe,
4Nếu tôi đã trả ác cho người ở hòa hảo cùng tôi, Và cướp lột kẻ hiếp tôi vô cớ,
4kai hoi angdaeh kami khaeah ka sae hmuen to ka sak, ue, takung tidoeh om ai ah, ka misa ih hmuen to ka lomh pae moeng nahaeloe;
5Thì đáng cho kẻ thù nghịch đuổi theo tôi kịp Giày đạp mạng sống tôi dưới đất, Và làm rạp vinh hiển tôi xuống bụi đất.
5ka misa mah ka hinghaih to la nasoe loe, pacaekthlaek nasoe; ue, ka hinghaih long ah atii nasoe loe, kai pakoehhaih to maiphu ah suem nasoe. Selah .
6Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nổi thạnh nộ mà chỗi dậy; Hãy dấy nghịch cùng sự giận hoảng của kẻ hiếp tôi; Khá tỉnh thức mà giúp đỡ tôi; Ngài đã truyền định sự đoán xét rồi.
6Aw Angraeng, palungphuihaih hoiah angthawk ah loe, ka misanawk palungphuihaih to pakaa ah: kai han angthawk ah loe, na thuih ih lok baktih toengah lok to takroek ah.
7Hội các dân tộc sẽ vây phủ tứ phía Ngài; Còn Ngài vì chúng phải trở lên cao.
7Kaminawk loe amkhueng o moe, nang ang ven o; nihcae han hmuensang ah amlaem let ah.
8Đức Giê-hô-va đoán xét các dân. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy đoán xét tôi theo sự công bình tôi, Và theo sự thanh liêm ở nơi lòng tôi.
8Angraeng mah kaminawk to lokcaek tih: aw Angraeng, ka toenghaih hoi kai thungah kaom akoephaih baktih toengah, nang mah lokcaek ah.
9è, Đức Chúa Trời công bình! là Đấng dò xét lòng dạ loài người, Xin hãy khiến cùng tận sự gian ác kẻ dữ, Song hãy làm cho vững vàng người công bình.
9Kami poekhaih khenkung, poeksae kami sethaih to boengsak ah loe, katoeng kami to caksak ah: aw katoeng Sithaw, nang loe palungthin ni na khet.
10Đức Chúa Trời là cái khiên tôi, Ngài là Đấng cứu rỗi những kẻ có lòng ngay thẳng.
10Poek toeng kaminawk pahlongkung Sithaw loe, kang vaenghaih ah oh.
11Đức Chúa Trời là quan án công bình, Thật là Đức Chúa Trời hằng ngày nổi giận cùng kẻ ác.
11Sithaw loe lokcaekkung katoeng ah oh, poeksae kami nuiah loe ni thokkruek palungphuihaih to amtuengsak.
12Nếu kẻ ác không hối cải, thì Đức Chúa Trời sẽ mài gươm: Ngài đã giương cung mà chực cho sẵn,
12Anih amlaem let ai nahaeloe, angmah ih sumsen to taak tih; angmah ih kalii to takoih ueloe, suem coek tih.
13Cũng đã vì nó sắm sửa khí giới làm chết, Và làm những tên Ngài phừng lửa.
13Anih hanah duekhaih hmuennawk to paroep pae moe, pacaekthlaek kaminawk kah hanah angmah ih kaliinawk to pathoep coek boeh.
14Kìa, kẻ dữ đang đẻ gian ác; Thật nó đã hoài thai sự khuấy khỏa, và sanh điều dối trá.
14Khenah, anih loe kasae to zokpomh; kasae poekhaih hoiah zokpomh moe, amrohaih to tacawtsak.
15Nó đào một hố sâu, Nhưng lại té vào hố nó đã đào.
15Anih loe tangqom to takaeh moe, a takaeh ih tangqom thungah krak.
16Sự khuấy khỏa nó đã làm sẽ đổ lại trên đầu nó. Và sự hung hăng nó giáng trên trán nó.
16A poeksethaih to angmah ih lu nuiah krah let ueloe, minawk nganbawh kana paekhaih doeh a lu nuiah krah lat tih.
17Tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va y theo sự công bình Ngài, Và ca tụng danh Đức Giê-hô-va là Đấng Chí cao.
17A toenghaih baktih toengah Angraeng to ka saphaw moe, Sang Koek Angraeng ih ahmin pakoehhaih laa to ka sak han.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.