Thi
Chapter 88
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi tôi. Ngày và đêm tôi kêu cầu trước mặt Chúa.
1Ka pahlonghaih Angraeng Sithaw, nang khaeah aqum athun kang hangh.
2Nguyện lời cầu nguyện tôi thấu đến trước mặt Chúa; Xin hãy nghiêng tai qua nghe tiếng kêu cầu của tôi.
2Lawk ka thuihaih nang khaeah pha nasoe; ka hanghaih lok na tahngai pae ah.
3Vì linh hồn tôi đầy dẫy sự hoạn nạn, Mạng sống tôi hầu gần âm phủ.
3Ka hinghaih mah raihaih tong boeh moe, ka hinghaih taprong taengah phak boeh.
4Tôi bị kể vào số những kẻ đi xuống huyệt; Tôi khác nào một người chẳng có ai giúp đỡ,
4Kai loe tangqom thungah caeh kaminawk hoi nawnto ang kroek o hmaek boeh; tha tawn ai kami baktiah ni ka oh sut boeh.
5Bị bỏ giữa kẻ chết, Giống như những kẻ bị giết nằm trong mồ mả, Mà Chúa không còn nhớ đến, Là kẻ bị truất khỏi tay Chúa.
5Kadueh kaminawk salakah vah sut ih kami, kami hum moe, taprong ah pasong o ih baktiah, na ban thung hoiah na takhoe ving moe, anih to na panoek ai boeh.
6Chúa đã để tôi nằm nơi hầm cực sâu, Tại chốn tối tăm trong vực thẳm.
6Kathuk koek tangqom, kaving moe, kathuk parai tangqom thungah nang pasong.
7Cơn giận Chúa đè nặng trên tôi, Chúa dùng các lượn sóng Chúa làm tôi cực nhọc.
7Palung na phuihaih mah kai ang taeh; kai hae na tuiphunawk boih hoiah nang pacaekthlaek. Selah .
8Chúa khiến những kẻ quen biết tôi lìa xa tôi, Làm tôi thành một vật gớm ghiếc cho họ; Tôi bị cấm cố, không ra được.
8Kam puinawk to nang lak pae ving; kai hae nihcae mah panuet hanah nang sak; kai nang paung caeng pongah, tasa bangah ka tacawt thai ai boeh.
9Mắt tôi hao mòn vì hoạn nạn; Đức Giê-hô-va ơi, hằng ngày tôi cầu khẩn Ngài, Và giơ tay lên hướng cùng Ngài.
9Raihaih mah ka mik amrosak boeh; Angraeng, ni thokkruek nang kang kawk; nang khaeah ka ban kang payangh.
10Chúa há vì kẻ chết mà sẽ làm phép lạ sao? Những kẻ qua đời há sẽ chỗi dậy đặng ngợi khen Chúa ư?
10Kadueh kaminawk hanah dawnrai hmuen na sak pae han maw? Kadueh kaminawk angthawk o ueloe, nang to saphaw o tih maw? Selah .
11Sự nhân từ Chúa há sẽ được truyền ra trong mồ mả sao? Hoặc sự thành tín Chúa được giảng trong vực sâu ư?
11Nam lunghaih to taprong thungah thui o tih maw, to tih ai boeh loe na oepthohhaih to amrohaih thungah thui o tih maw?
12Các phép lạ Chúa há sẽ được biết trong nơi tối tăm sao? Và sự công bình Chúa há sẽ được rõ trong xứ bị bỏ quên ư?
12Na sak ih dawnrai hmuennawk to khoving thungah panoek o tih maw? Na toenghaih doeh pahnet thaih prae ah panoek o tih maw?
13Còn tôi, Đức Giê-hô-va ơi, tôi kêu cầu cùng Ngài; Vừa sáng lời cầu nguyện tôi sẽ thấu đến trước mặt Ngài.
13Toe Aw Angraeng, kai loe nang khaeah ka qah; akhawn bangah lawkthuihaih loe na hmaa ah phak boeh.
14Đức Giê-hô-va ôi! vì sao Ngài từ bỏ linh hồn tôi, Và giấu mặt Ngài cùng tôi?
14Angraeng, tipongah ka pakhra nang vah pae ving loe? Tipongah mikhmai nang hawk taak ving loe?
15Tôi bị hoạn nạn hòng chết từ buổi thơ ấu; Tôi mang sự kinh khiếp Chúa, và bị hoảng hồn.
15Kai loe nawkta nathuem hoi patang ka khang boeh moe, ka duek duih boeh; raihaih nang tongsak pongah kang pho sut boeh.
16Sự giận dữ Chúa trôi trác tôi, Sự hãi hùng Chúa đã trừ diệt tôi.
16Palung na phuihaih mah kai ang kraeng khoep boeh; nang tongsak ih raihaih mah ang paro boeh.
17Hằng ngày các điều ấy vây quanh tôi như nước, Cùng nhau bao phủ tôi.
17To hmuennawk loe tuibaktiah ka taengah ni thokkruek angzoh o; kai hae nawnto ang takui o.
18Chúa khiến các bậu bạn lìa xa tôi, Cũng đã làm kẻ quen biết tôi ẩn nơi tối tăm.
18Palung ih kami hoi ampuinawk to kai khae hoi kangthla ah nang suek pae, kam puinawk loe vinghaih thungah oh o.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.