Thi
Chapter 89
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Tôi sẽ hát xướng về sự nhân từ của Đức Giê-hô-va luôn luôn; Từ đời nầy sang đời kia miệng tôi sẽ truyền ra sự thành tín của Ngài.
1Angraeng palungnathaih to dungzan khoek to laa ah ka sak han; na oepthohhaih to kaminawk boih khaeah ka pakha hoi roe ka thuih han.
2Vì tôi đã nói: Sự thương xót sẽ được lập đến đời đời, Trên các từng trời Ngài sẽ lập cho vững bền sự thành tín Ngài.
2Palungnathaih loe dungzan khoek to caak tih; vannawk boih nuiah na oepthohhaih to na caksak tih.
3Ta đã lập giao ước cùng kẻ được chọn của ta, Ta đã thề cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ ta, mà rằng:
3Ka qoih ih kami hoiah lokmaihaih to ka sak moe, ka tamna David khaeah lokmaihaih to ka sak boeh,
4Ta sẽ lập dòng dõi ngươi đến mãi mãi, Và dựng ngôi ngươi lên cho vững bền đến đời đời.
4na tii to dungzan khoek to ka caksak moe, na caanawk ih adung khoek to na angraeng tangkhang to ka caksak han, tiah na thuih. Selah .
5Hỡi Đức Giê-hô-va, các từng trời sẽ ngợi khen phép lạ Ngài; Sự thành tín Ngài cũng sẽ được ngợi khen trong hội các thánh.
5Aw Angraeng, na sak ih dawnrai hmuennawk to vannawk mah saphaw o ueloe, na oepthohhaih doeh kaciim kaminawk amkhuenghaih ahmuen ah saphaw o tih.
6Vì trên các từng trời, ai sánh được với Đức Giê-hô-va? Trong những con trai kẻ mạnh dạn, ai giống như Đức Giê-hô-va?
6Van ah Angraeng hoi patah han koi mi maw kaom? Thacak kami ih capanawk thungah Angraeng baktiah mi maw kaom?
7Đức Chúa Trời thật rất đáng sợ trong hội các thánh, Đáng hãi hùng hơn kẻ đứng chầu chung quanh Ngài.
7Kaciim kaminawk amkhuenghaih ahmuen ah loe Angraeng to paroeai zit o; anih loe ataeng ah kaom kaminawk pongah khingya paek han koi ah oh.
8Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, ai có quyền năng giống như Chúa? Sự thành tín Chúa ở chung quanh Chúa.
8Aw misatuh kaminawk ih Angraeng Sithaw, nang baktih thacak Angraeng mi maw om tih? Na oepthohhaih mah nang to ang takui.
9Chúa cai trị sự kiêu căng của biển: Khi sóng nổi lên, Chúa làm cho nó yên lặng.
9Nang mah tuipui to na uk; tuiphu angthawk tahang naah, tuiphu to na dipsak.
10Chúa đã chà nát Ra-háp khác nào kẻ bị đánh chết, Nhờ cánh tay mạnh mẽ Chúa, Chúa đã tản lạc những kẻ thù nghịch Chúa.
10Hum ih kami baktiah, Rahab to na taprawt pet pet moe, na ban thacakhaih hoiah na misanawk to na vah phaeng.
11Các từng trời thuộc về Chúa, đất cũng thuộc về Chúa; Chúa đã sáng lập thế gian và mọi vật nó chứa.
11Vannawk loe nang ih hmuen ah oh o, long doeh nang ih ni; long hoi athung ah kaom hmuennawk boih loe, nang mah ni na sak.
12Phương bắc, phương nam cũng bởi Chúa dựng nên; Tha-bô và Hẹt-môn đều vui mừng vì danh Chúa.
12Aluek hoi aloih to na sak; Tarbo hoi Hermon loe na hmin rang hoiah anghoe tih.
13Chúa có cánh tay quyền năng, Bàn tay Chúa có sức mạnh, và tay hữu Chúa giơ cao lên.
13Na ban loe thacakhaih hoiah koi; na ban loe thacak moe, na bantang ban loe sang.
14Sự công bình và sự chánh trực là nền của ngôi Chúa; Sự nhân từ và sự chân thật đi trước mặt Chúa.
14Katoengah lokcaekhaih hoi toenghaih loe na angraeng tangkhang ohhaih ahmuen ah oh; tahmenhaih hoi loktang loe na hmaa ah caeh tih.
15Phước cho dân nào biết tiếng vui mừng! Hỡi Đức Giê-hô-va, họ bước đi trong ánh sáng của mặt Chúa.
15Anghoehaih lok panoek kaminawk loe tahamhoih! Aw Angraeng, nihcae loe na hmaa ah aanghaih hoiah caeh o.
16Hằng ngày họ vui mừng vì danh Chúa, Được nhắc cao lên vì sự công bình Chúa.
16Nihcae loe na hmin rang hoiah ni thokkruek anghoe o; na toenghaih rang hoiah ni nihcae mah pakoeh o.
17Vì Chúa là sự vinh hiển về sức lực của họ; Nhờ ơn Chúa, sừng chúng tôi sẽ được ngước cao lên.
17Nang loe nihcae lensawkhaih hoi thacakhaih ah na oh; nang tahmenhaih rang hoiah ni kaicae ih taki loe pakoeh ah oh.
18Vì Đức Giê-hô-va là cái khiên của chúng tôi, Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên là Vua chúng tôi.
18Kaicae abuephaih loe Angraeng ih ni; Ciimcai Israelnawk ih kami loe kaicae ih siangpahrang ah oh.
19Bấy giờ, trong dị tượng, Chúa có phán cùng người thánh của Chúa, Mà rằng: Ta đã đặt một người mạnh dạn làm kẻ tiếp trợ, Nhắc cao lên một đấng lựa chọn từ trong dân sự.
19Hnuksakhaih hoiah nangmah ih kaciim kami khaeah lok na thuih; thacak kami abomh hanah kang paek boeh; kaminawk thung hoi qoih ih kami maeto ka sangsak boeh.
20Ta đã gặp Đa-vít, là kẻ tôi tớ ta, Xức cho người bằng dầu thánh ta,
20Ka tamna David to ka hnuk boeh; anih loe kaciim kaimah ih situi hoiah ka bawh boeh,
21Tay ta sẽ nâng đỡ người, Cánh tay ta sẽ làm cho người mạnh mẽ.
21anih nuiah ka ban thacak tih; ka ban tampawk hoiah anih tha ka caksak han.
22Kẻ thù nghịch sẽ chẳng hiếp đáp người, Con kẻ ác cũng sẽ không làm khổ sở người được.
22Misa mah anih ih hmuen to lomh pae mak ai; kasae kami ih ca mah doeh anih to pacaekthlaek mak ai.
23Ta sẽ đánh đổ kẻ cừu địch người tại trước mặt người. Và cũng đánh hại những kẻ ghét người.
23Anih hmaa ah a misanawk to ka boh pae moe, anih hnuma kaminawk to raihaih ka paek han.
24Song sự thành tín và sự nhân từ ta sẽ ở cùng người; Nhân danh ta, sừng người sẽ được ngước lên.
24Ka oepthohhaih hoi ka palungnathaih anih khaeah om ueloe, ka hmin rang hoiah anih ih taki to pakoeh tih.
25Ta cũng sẽ đặt tay người trên biển, Và tay hữu người trên các sông.
25Anih ih ban loe tuipui nuiah ka suek pae moe, a bantang ban to vapuinawk nuiah ka koeng pae han.
26Người sẽ kêu cùng ta rằng: Chúa là Cha tôi, Là Đức Chúa Trời tôi, và là hòn đá về sự cứu rỗi tôi.
26Anih mah, Nang loe kam pa, ka Sithaw, ka pahlonghaih lungsong, tiah na kawk tih.
27Lại ta cũng sẽ làm người thành con trưởng nam ta, Vua cao hơn hết các vua trên đất.
27Anih to long siangpahrangnawk pongah sang kue, anih to ka calu ah ka suek han.
28Ta sẽ dành giữ cho người sự nhân từ ta đến đời đời, Lập cùng người giao ước ta cho vững bền.
28Anih hanah ka palungnathaih dungzan khoek to ka suek han; ka lokmaihaih loe a nuiah cak poe tih.
29Ta cũng sẽ làm cho dòng dõi người còn đến đời đời, Và ngôi người còn lâu dài bằng các ngày của trời.
29Anih ih atii to dungzan khoek to ka caksak moe, van oh nathung anih anghnuthaih angraeng tangkhang to ka caksak poe han.
30Nếu con cháu người bỏ luật pháp ta, Không đi theo mạng lịnh ta,
30A caanawk mah ka paek ih kaalok caeh o taak moe, ka lokcaekhaih baktiah caeh o ai ah,
31Nếu chúng nó bội nghịch luật lệ ta, Chẳng giữ các điều răn của ta,
31ka thuih ih loknawk to aek o moe, ka paek ih loknawk to pazui o ai nahaeloe,
32Thì ta sẽ dùng roi đánh phạt sự vi phạm chúng nó, Và lấy thương tích mà phạt sự gian ác của chúng nó.
32a sakpazaehaihnawk pongah thingboeng hoiah ka thuitaek moe, a sakpazae o haih baktih toengah dan ka paek han.
33Nhưng ta sẽ chẳng cất lấy sự nhân từ ta khỏi người, Và sự thành tín ta cũng sẽ chẳng hết.
33Toe kai ih tahmen amlunghaih to anih khae hoiah ka la pae ving mak ai, ka oepthohhaih doeh kam rosak mak ai.
34Ta sẽ không hề bội giao ước ta, Cũng chẳng đổi lời đã ra khỏi môi miệng ta.
34Ka sak ih lokmaihaih to kam rosak mak ai, pakha hoi ka thuih ih lok doeh kam khraisak mak ai.
35Ta đã chỉ sự thánh ta mà thề một lần, Cũng sẽ không hề nói dối với Đa-vít:
35David khaeah lok kam lai mak ai, tiah ka ciimhaih hoi vaito ka khawt ah lok ka kam boeh.
36Dòng dõi người sẽ còn đến đời đời, Và ngôi người sẽ còn lâu như mặt trời ở trước mặt ta.
36Anih ih atii loe cak poe ueloe, anih ih angraeng tangkhang loe ka hmaa ih ni baktiah om tih.
37Ngôi ấy sẽ được lập vững bền mãi mãi như mặt trăng, Như đấng chứng thành tín tại trên trời vậy.
37Khrah baktiah cak poe ueloe, van ih oepthok hnukung baktiah om tih. Selah .
38Song Chúa lại từ bỏ, khinh bỉ người, Nổi giận cùng đấng chịu xức dầu của Chúa.
38Toe nang mah nang pahnawt sut boeh moe, nang panuet boeh, situi na bawh ih kami nuiah palung na phui boeh.
39Chúa đã gớm ghê giao ước kẻ tôi tớ Chúa, Và quăng mão triều người xuống bụi đất mà làm nó ra phàm.
39Na tamna hoiah sak ih lokmaihaih to na pahnawt sut boeh moe, anih ih angraeng lumuek to panuet kaom long ah na vah pae ving boeh.
40Chúa đã đánh đổ các rào người, Phá những đồn lũy người ra tan nát.
40Anih ih sipaenawk to na phraek pae boih boeh; anih ih kacak sipaenawk doeh nam rosak boeh.
41Hết thảy kẻ nào đi qua cướp giựt người; Người đã trở nên sự sỉ nhục cho kẻ lân cận mình.
41Loklam ah caeh kaminawk mah anih to lomh o; anih loe ataeng ah kaom kaminawk kasaethuih han koi ah oh.
42Chúa đã nhắc tay cừu địch người cao lên, Làm cho những kẻ thù nghịch người vui vẻ.
42A misanawk ih bantang ban to na toengh pae tahang; a misanawk boih to nang hoesak boeh.
43Phải, Chúa làm cho lưỡi gươm người thối lại, Chẳng có giúp đỡ người đứng nổi trong cơn chiến trận.
43Anih ih sumsen haa to na paqoi pae ving boeh; anih misatuk naah nang doe haih ai boeh.
44Chúa đã làm cho sự rực rỡ người mất đi, Ném ngôi người xuống đất,
44A lensawkhaih to na boengsak moe, anih ih angraeng tangkhang to long ah na vah pae ving boeh.
45Khiến các ngày đang thì người ra vắn, Và bao phủ người bằng sự sỉ nhục.
45A qoeng li naah aninawk to na duemsak; azathaih hoiah anih to na khuk khoep boeh. Selah .
46Đức Giê-hô-va ôi! Ngài sẽ ẩn mình hoài cho đến chừng nào? Cơn giận Ngài sẽ cháy như lửa cho đến bao giờ?
46Nasetto maw? Aw Angraeng, nang hawk poe han boeh maw? Palung na phuihaih hmai baktiah kangh tih maw?
47Oâi Chúa! xin nhớ lại thì giờ tôi ngắn dường nào: Chúa dựng nên con loài người hư không dường bao!
47Ka hinghaih loe nasetto maw duemh, tito panoek ah; na sak ih kaminawk loe azom pui ah ni oh o.
48Ai là người sống mà sẽ chẳng thấy sự chết? Ai sẽ cứu linh hồn mình khỏi quyền âm phủ?
48Kawbaktih kami maw duekhaih tongh ai ah hing thaih? Anih loe taprong thacakhaih thung hoiah a hinghaih pahlong thai tih maw? Selah .
49Hỡi Chúa, sự nhân từ xưa mà Chúa trong sự thành tín mình Đã thề cùng Đa-vít, bây giờ ở đâu?
49Aw Angraeng, loktang lok hoiah na tamna David khaeah na sak ih lokmaihaih hoi canghnii ih na tahmenhaih to naah maw oh ving boeh?
50Chúa ôi! xin nhớ lại sự sỉ nhục của các tôi tớ Chúa; Tôi mang trong lòng tôi sự sỉ nhục của các dân lớn,
50Angraeng, na tamnanawk pahnuithuihhaih to pakuem poe ah; thacak kaminawk boih mah kasaethuihaih to palung thung hoi kawbang maw ka pauep, tito panoek ah,
51Hỡi Đức Giê-hô-va, tức là sự sỉ nhục mà những kẻ thù nghịch Chúa Đã dùng để sỉ nhục các bước đấng chịu xức dầu của Chúa.
51Aw Angraeng, na misanawk mah kasae a thuih o; nihcae loe nangmah na caksak kami ih khok tangkannawk to pahnui o thuih boeh.
52Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va đến đời đời! A-men! A-men!
52Angraeng khaeah tahamhoihaih dungzan khoek to om nasoe! Amen hoi Amen.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.