Thi 89
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Tôi sẽ hát xướng về sự nhân từ của Đức Giê-hô-va luôn luôn; Từ đời nầy sang đời kia miệng tôi sẽ truyền ra sự thành tín của Ngài.
1E HOOKANI mau loa aku au i ka lokomaikai o Iehova; Ma ko'u waha e hoike aku at au i kou oiaio i kela hanauna, i keia hanauna.
2Vì tôi đã nói: Sự thương xót sẽ được lập đến đời đời, Trên các từng trời Ngài sẽ lập cho vững bền sự thành tín Ngài.
2No ka mea, ua olelo no wau, e hoopaa mau loa ia kou lokomaikai; A e hookumu no hoi oe i kou oiaio ma ka lani.
3Ta đã lập giao ước cùng kẻ được chọn của ta, Ta đã thề cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ ta, mà rằng:
3Ua hana au i berita me kou poe i waeia, Ua hoohiki aku au no Davida, ka'u kauwa,
4Ta sẽ lập dòng dõi ngươi đến mãi mãi, Và dựng ngôi ngươi lên cho vững bền đến đời đời.
4E hoonoho paa loa wau i kau poe mamo, A e hana no hoi au i nohoalii nou no na hanauna a pau. Sila.
5Hỡi Đức Giê-hô-va, các từng trời sẽ ngợi khen phép lạ Ngài; Sự thành tín Ngài cũng sẽ được ngợi khen trong hội các thánh.
5Na ka lani no e hoolea i kou mau mea mana, e Iehova, I kou oiaio kekahi, ma ke anaina o ka poe pono.
6Vì trên các từng trời, ai sánh được với Đức Giê-hô-va? Trong những con trai kẻ mạnh dạn, ai giống như Đức Giê-hô-va?
6No ka mea, owai la ka mea ma ke aonli e ku like me Iehova? Iwaena hoi o na keiki a ka poe kiekie, e hoohalikeia me Iehova?
7Đức Chúa Trời thật rất đáng sợ trong hội các thánh, Đáng hãi hùng hơn kẻ đứng chầu chung quanh Ngài.
7He Akua woliweli loa hoi ia ma ke anaina o ka poe pono; A he mea ia e hopohopo ai no ka poe a pau e noho hoopuni ana ia ia.
8Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, ai có quyền năng giống như Chúa? Sự thành tín Chúa ở chung quanh Chúa.
8E Iehova, ke Akua o na kaua, Owai la kekahi Iehova e like me oe? Me kou oiaio hoi e hoopuni ana ia oe?
9Chúa cai trị sự kiêu căng của biển: Khi sóng nổi lên, Chúa làm cho nó yên lặng.
9O oe no ka i hookouopono i ke kupikipikio ana o ke kai; A pii nui ae kona mau ale, nau ia e hoomalielie.
10Chúa đã chà nát Ra-háp khác nào kẻ bị đánh chết, Nhờ cánh tay mạnh mẽ Chúa, Chúa đã tản lạc những kẻ thù nghịch Chúa.
10Ua paopao no oe ia Rahaba, me he mea la i pepehiia; I ka ikaika o kou lima, na hooauhee oe i kou poe enemi.
11Các từng trời thuộc về Chúa, đất cũng thuộc về Chúa; Chúa đã sáng lập thế gian và mọi vật nó chứa.
11Nau no ka lani, nau no hoi ka honua; Ua hookumu no oe i ke ao, a me kona mau mea e piha'i.
12Phương bắc, phương nam cũng bởi Chúa dựng nên; Tha-bô và Hẹt-môn đều vui mừng vì danh Chúa.
12O ke kukulu akau, a me ke kukuluhema, nau no i hana ia mau mea; E olioli no o Tabora a me Heremona i kou inoa.
13Chúa có cánh tay quyền năng, Bàn tay Chúa có sức mạnh, và tay hữu Chúa giơ cao lên.
13He lima no kou i lako i ka ikaika: Ua ikaika no kou lima, ua kiekie hoi kou lima akau.
14Sự công bình và sự chánh trực là nền của ngôi Chúa; Sự nhân từ và sự chân thật đi trước mặt Chúa.
14O ka pono, a me ka hoopono, oia ke kumu o kou nohoalii: E hele ae no imua o kou maka ka lokomaikai, a me ka oiaio.
15Phước cho dân nào biết tiếng vui mừng! Hỡi Đức Giê-hô-va, họ bước đi trong ánh sáng của mặt Chúa.
15Pomaikai ka poe kanaka ike ia leo hauoli: E Iehova, e hele no lakou ma ka malamalama o kou maka.
16Hằng ngày họ vui mừng vì danh Chúa, Được nhắc cao lên vì sự công bình Chúa.
16E hauoli no lakou i kou inoa a po ka la; A ma kou pono hoi e hookiekieia'i lakou.
17Vì Chúa là sự vinh hiển về sức lực của họ; Nhờ ơn Chúa, sừng chúng tôi sẽ được ngước cao lên.
17No ka mea, o oe no ka nani o ko lakou ikaika; A ma kou lokomaikai e hookiekieia'i ko makou pepeiaohao.
18Vì Đức Giê-hô-va là cái khiên của chúng tôi, Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên là Vua chúng tôi.
18No ka mea, aia no ia Iehova ko makou paku, A i ka Mea Hemolele hoi o ka Iseraela, ko makou alii.
19Bấy giờ, trong dị tượng, Chúa có phán cùng người thánh của Chúa, Mà rằng: Ta đã đặt một người mạnh dạn làm kẻ tiếp trợ, Nhắc cao lên một đấng lựa chọn từ trong dân sự.
19Alaila, olelo iho no oe i kou mea hemolele ma ke akaku, I mai la. Ua kau aku au i ka mana maluna o ka mea ikaika; Ua hookiekie au i ka mea i waeia mai o na kanaka.
20Ta đã gặp Đa-vít, là kẻ tôi tớ ta, Xức cho người bằng dầu thánh ta,
20Ua loaa ia'u o Davida, o ka'u kauwa; Ua poni aku no au ia ia me kuu aila laa.
21Tay ta sẽ nâng đỡ người, Cánh tay ta sẽ làm cho người mạnh mẽ.
21E paa mau no ko'u lima me ia, A e hooikaika aku no ko'u lima ia ia.
22Kẻ thù nghịch sẽ chẳng hiếp đáp người, Con kẻ ác cũng sẽ không làm khổ sở người được.
22Aole e kii mai ka enemi i kana, Aole hoi e hookaumaha ke keiki a ka hewa ia ia.
23Ta sẽ đánh đổ kẻ cừu địch người tại trước mặt người. Và cũng đánh hại những kẻ ghét người.
23Na'u no e hooauhee i kona poe enemi imua ona, A e luku aku hoi i ka poe inaina mai ia ia,
24Song sự thành tín và sự nhân từ ta sẽ ở cùng người; Nhân danh ta, sừng người sẽ được ngước lên.
24E noho no ko'u oiaio a me ko'u lokomaikai me ia; A ma ko'u inoa e hookiekieia'i kona pepeiaohao.
25Ta cũng sẽ đặt tay người trên biển, Và tay hữu người trên các sông.
25E hookau aku au i kona lima ma ke kai, A me kona lima akau hoi ma na muliwai.
26Người sẽ kêu cùng ta rằng: Chúa là Cha tôi, Là Đức Chúa Trời tôi, và là hòn đá về sự cứu rỗi tôi.
26E hea mai no oia ia'u, O oe no ko'u Makua, O ko'u Akua hoi, a me ka Pohaku o ko'u hoolaia.
27Lại ta cũng sẽ làm người thành con trưởng nam ta, Vua cao hơn hết các vua trên đất.
27E hoolilo no wau ia ia i ko'u makahiapo, I mea kiekie maluna o na'lii o ka honua.
28Ta sẽ dành giữ cho người sự nhân từ ta đến đời đời, Lập cùng người giao ước ta cho vững bền.
28E malama mau loa no wau i ko'u lokomaikai ia ia, A e ku paa loa no ko'u berita me ia.
29Ta cũng sẽ làm cho dòng dõi người còn đến đời đời, Và ngôi người còn lâu dài bằng các ngày của trời.
29E hoomau loa no wau i kona poe mamo, A me kona nohoalii hoi, e like me na la o ka lani.
30Nếu con cháu người bỏ luật pháp ta, Không đi theo mạng lịnh ta,
30Ina haalele kana poe keiki i ko'u kanawai, Aole hoi e hele ma kou hoopono ana.
31Nếu chúng nó bội nghịch luật lệ ta, Chẳng giữ các điều răn của ta,
31Ina kuu aku lakou i ka'u olelo pau, Aole hoi e malama i ka'u mau kauoha;
32Thì ta sẽ dùng roi đánh phạt sự vi phạm chúng nó, Và lấy thương tích mà phạt sự gian ác của chúng nó.
32Alaila e hoopai aku au i ko lakou hewa i ka laau hahau, A me ko lakou hala hoi i ke kaula.
33Nhưng ta sẽ chẳng cất lấy sự nhân từ ta khỏi người, Và sự thành tín ta cũng sẽ chẳng hết.
33Aole nae o lawe loa aku au i ko'u lokomaikai mai ona aku. Aole hoi au e hoole i ko'u lokomaikai.
34Ta sẽ không hề bội giao ước ta, Cũng chẳng đổi lời đã ra khỏi môi miệng ta.
34Aole au e ae maluna o ka'u berita, Aole hoi e hoololi i ka olelo i puka aku ma ko'u lehelehe.
35Ta đã chỉ sự thánh ta mà thề một lần, Cũng sẽ không hề nói dối với Đa-vít:
35Hookahi no ko'u hoohiki ana i ko'u hemolele, Aole au e wahahee aku ia Davida.
36Dòng dõi người sẽ còn đến đời đời, Và ngôi người sẽ còn lâu như mặt trời ở trước mặt ta.
36E mau loa ana no kana poe mamo, A me kona nohoalii, e like me ka la imua o'u.
37Ngôi ấy sẽ được lập vững bền mãi mãi như mặt trăng, Như đấng chứng thành tín tại trên trời vậy.
37E hoopaa mau loa ia no hoi ia, e like me ka mahina, Me he mea hoike oiaio la ma ke aouli. Sila.
38Song Chúa lại từ bỏ, khinh bỉ người, Nổi giận cùng đấng chịu xức dầu của Chúa.
38Aka, ua hooki mai oe, a ua hoopailua mai, A ua huhu mai no hoi oe i kau mea i poni ai.
39Chúa đã gớm ghê giao ước kẻ tôi tớ Chúa, Và quăng mão triều người xuống bụi đất mà làm nó ra phàm.
39Ua hoole mai no hoi oe i ka berita o kau kauwa: Ua hoolei oe i kona leialii i lalo i ka lepo.
40Chúa đã đánh đổ các rào người, Phá những đồn lũy người ra tan nát.
40Ua wawahi no hoi oe i kona mau pa a pau, Ua haawi mai no hoi oe i kona mau pakaua i ka lukuia.
41Hết thảy kẻ nào đi qua cướp giựt người; Người đã trở nên sự sỉ nhục cho kẻ lân cận mình.
41Hao wale ia ia ka poe a pau e maalo ana ae malaila: He mea hoomaewaowa ia i kona poe hoalauna.
42Chúa đã nhắc tay cừu địch người cao lên, Làm cho những kẻ thù nghịch người vui vẻ.
42Ua hookiekio oe i ka lima akau o kona poe enemi; Ua hoohauoli oe i ka poe a pau i inaina mai ia ia.
43Phải, Chúa làm cho lưỡi gươm người thối lại, Chẳng có giúp đỡ người đứng nổi trong cơn chiến trận.
43Ua hoohuli ae no hoi oe i ka maka o kana pahikaua, Aole hoi oe i hookupaa ia ia ma ke kaua.
44Chúa đã làm cho sự rực rỡ người mất đi, Ném ngôi người xuống đất,
44Ua hooki mai oe i kona nani, A ua hoolei i kona nohoalii ilalo i ka lepo.
45Khiến các ngày đang thì người ra vắn, Và bao phủ người bằng sự sỉ nhục.
45Ua hoopokole mai oe i na la o kona wa opiopio; Ua uhi mai no hoi oe ia ia i ka hilahila. Sila.
46Đức Giê-hô-va ôi! Ngài sẽ ẩn mình hoài cho đến chừng nào? Cơn giận Ngài sẽ cháy như lửa cho đến bao giờ?
46Pehea la ka loihi o kou hoonalo ana ia oe iho, e Iehova? E mau loa anei? E a mai nei anei kou huhu me he ahi la?
47Oâi Chúa! xin nhớ lại thì giờ tôi ngắn dường nào: Chúa dựng nên con loài người hư không dường bao!
47E hoomanao mai oe ia'u, pehea la ka loihi o ke ola ana? No ke aha la oe i hana makehewa ai i na kanaka a pau?
48Ai là người sống mà sẽ chẳng thấy sự chết? Ai sẽ cứu linh hồn mình khỏi quyền âm phủ?
48Owai ke kanaka e ola nei, aole oia e ike i ka make? E hoopakele anei oia i kona ola, mai ka lima aku o ka mea make? Sila.
49Hỡi Chúa, sự nhân từ xưa mà Chúa trong sự thành tín mình Đã thề cùng Đa-vít, bây giờ ở đâu?
49Auhea la kou lokomaikai o na manawa kahiko, e ka Haku? Ka mea au i hoohiki ai ia Davida ma ka oiaio?
50Chúa ôi! xin nhớ lại sự sỉ nhục của các tôi tớ Chúa; Tôi mang trong lòng tôi sự sỉ nhục của các dân lớn,
50E hoomanao mai oe, e ka Haku, i ka hoinoia o kau kauwa; Ua lawe no wau ma kou umauma i na lehulehu a pau o kou poe kanaka.
51Hỡi Đức Giê-hô-va, tức là sự sỉ nhục mà những kẻ thù nghịch Chúa Đã dùng để sỉ nhục các bước đấng chịu xức dầu của Chúa.
51No ka mea, ua hoino wale mai kou poe enemi, e Iehova, Ua hoino wale mai hoi i na kapuwai o kou mea i poniia.
52Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va đến đời đời! A-men! A-men!
52E hoomaikaiia o Iehova, a i ka manawa pau ole. Amene, Amene.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.