Thi 80
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Hỡi Đấng chăn giữ Y-sơ-ra-ên, hỡi Đấng dẫn dắt Gia-cốp như bầy chiên, Hãy lắng tai nghe. Hỡi Đấng ngự trên chê-ru-bin, Hãy sáng sự rực rỡ Ngài ra.
1E HALIU mai kou pepeiao, e ke Kahuhipa o ka Iseraela, Ka mea alakai ia Iosepa me he ohana hipa la; E ka mea e noho la mawaena o na Kerubima, e hoomalamalama mai.
2Trước mặt Eùp-ra-im, Bên-gia-min, và Ma-na-se, xin hãy giục giã năng lực Ngài, Và đến cứu chúng tôi.
2Imua o Eperaima a me Beniamina, a me Manase, E hoala ai oe i kou ikaika, E hele mai hoi e hoola ia makou.
3Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy đem chúng tôi lại, Và làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
3E ke Akua e, e hoohuli mai oe ia makou, Na kou maka e hoomalamalama mai, alaila ola no makou.
4Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, Chúa giận lời cầu nguyện của dân Chúa cho đến chừng nào?
4E Iehova, ke Akua o na kaua, Pehea la ka loihi o kou huhu ana i ka pule a kou poe kanaka?
5Chúa đã nuôi chúng nó bằng bánh giọt lệ, Và cho chúng nó uống nước mắt đầy đấu.
5Ke hanai mai nei oe ia lakou i ka ai, he waimaka; Ke hoohainu mai nei oe ia lakou i na waimaka, a piha ke ana.
6Chúa làm chúng tôi thành bia tranh cạnh cho kẻ lân cận chúng tôi, Và kẻ thù nghịch cùng nhau cười nhạo chúng tôi.
6Ua hoolilo oe ia makou i mea e hakaka'i na mea e noho kokoke ana ia makou; A ua akaaka hoi ko makou poe enemi iwaena o lakou.
7Hỡi Đức Chúa Trời vạn quân, xin hãy đem chúng tôi lại, Và làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
7E ke Akua o na kaua, e hoohuli mai oe ia makou; Na kou maka e hoomalamalama mai, alaila, ola no makou.
8Từ Ê-díp-tô Chúa đã dời sang một cây nho; Chúa đuổi các dân ra, rồi trồng cây ấy;
8Ua lawe mai oe i ke kumuwaina mai Aigupita mai; Kipaku aku no oe i ko na aina e, a kanu iho la.
9Cũng xở đất cho nó, Nó bèn châm rễ và bò đầy đất.
9Hoomakaukau no oe imua ona, Kokolo ae la kona aa, a piha ka aina.
10Các núi bị bóng nó che phủ, Và các nhành nó giống như cây hương nam của Đức Chúa Trời.
10Uhiia na mauna i kona malu, A me na kedera nui e kona mau lala.
11Các nhành nó gie ra đến biển, Và chồi nó lan đến sông.
11Hoopuka ae la ia i kona mau lala a hiki i ke kai, A me kona mau manamana hoi, a hiki i ka muliwai.
12Vì cớ sao Chúa phá hàng rào nó, Để cho các kẻ đi qua lảy lặt nó?
12No keaha la oe i hoohiolo ai i kona mau pa, I ako ai i kona ka poe a pau e hele ae ma ke ala?
13Heo rừng cắn phá nó, Và các thú đồng ăn nó.
13Oki loa iho la ia i ka puaa o ka nahelehele, Pau hoi ia i ka aiia e na holoholona o ke kula.
14Đức Chúa Trời vạn quân ôi! xin hãy trở lại, Từ trên trời hãy ngó xuống, đoái xem và thăm viếng cây nho nầy,
14E ke Akua o na kaua, e hoi mai oe; E nana mai oe mai ka lani mai, a e ike hoi, A e kokua mai i keia kumuwaina.
15Là tượt nho mà tay hữu Chúa đã trồng, Và là chồi mà Chúa đã chọn cho mình.
15E kiai mai oe i ka mea a kou lima akau i kanu ai, A me ke keiki au i hooikaika'i nou iho.
16Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt: Vì cớ sự quở trách của mặt Chúa, chúng nó phải hư mất.
16Ua pau ia i ke ahi, ua kua ia ilalo; I kou papa ana make no lakou.
17Nguyện tay Chúa phù hộ người của tay hữu Chúa, Tức là con người mà Chúa đã chọn cho mình:
17E kauia kou lima maluna o ke kanaka o kou lima akau, A maluna hoi o ke keiki a ke kanaka au i hooikaika'i nou iho.
18Rồi chúng tôi sẽ không lìa khỏi Chúa nữa. Xin hãy làm cho chúng tôi được sống lại, thì chúng tôi sẽ cầu khẩn danh Chúa.
18Alaila, aole makou e haalele ia oe; E hoala mai oe ia makou, a e hea aku no makou i kou inoa.
19Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, xin hãy đem chúng tôi lại, Làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
19E Iehova, ke Akua o na kaua, e hoohuli mai oe ia makou, Na kou maka e hoomalamalama mai, alaila, ola no makou.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.