Thi 80
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bible Mutal (Kosraean)
1Hỡi Đấng chăn giữ Y-sơ-ra-ên, hỡi Đấng dẫn dắt Gia-cốp như bầy chiên, Hãy lắng tai nghe. Hỡi Đấng ngự trên chê-ru-bin, Hãy sáng sự rực rỡ Ngài ra.
1Porongekut, O Shepherd lun Israel, Lohng kut, kom su kol un sheep nutum; Kom su muta lucng liki posohksok lun cherub.
2Trước mặt Eùp-ra-im, Bên-gia-min, và Ma-na-se, xin hãy giục giã năng lực Ngài, Và đến cứu chúng tôi.
2Fahkkomyak nu sin sruf lal Ephraim, Benjamin, ac Manasseh. Akkalemye ku lom nu sesr; Fahsru ac molikutla!
3Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy đem chúng tôi lại, Và làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
3Folokinkutme, O God! Akkalemye pakoten lom nu sesr ac kut tufah moulla.
4Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, Chúa giận lời cầu nguyện của dân Chúa cho đến chừng nào?
4O LEUM GOD Kulana, Putaka kom ac mulat ke pre lun mwet lom?
5Chúa đã nuôi chúng nó bằng bánh giọt lệ, Và cho chúng nó uống nước mắt đầy đấu.
5Kom ase asor oana mwe mongo nasr, Ac sie cup lulap ke sroninmuta tuh kut in nim.
6Chúa làm chúng tôi thành bia tranh cạnh cho kẻ lân cận chúng tôi, Và kẻ thù nghịch cùng nhau cười nhạo chúng tôi.
6Kom oru tuh mutunfacl su raunikutla in mweun ke acn lasr, Ac mwet lokoalok lasr elos akkolukye kut.
7Hỡi Đức Chúa Trời vạn quân, xin hãy đem chúng tôi lại, Và làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
7Folokinkutme, O God Kulana! Akkalemye pakoten lom nu sesr, ac kut tufah moulla.
8Từ Ê-díp-tô Chúa đã dời sang một cây nho; Chúa đuổi các dân ra, rồi trồng cây ấy;
8Kom use soko fain in grape Egypt me, Kom lusla mutunfacl liki acn selos ac yukwiya fain soko inge in acn selos.
9Cũng xở đất cho nó, Nó bèn châm rễ và bò đầy đất.
9Kom sakunla acn se tuh elan yoki we Ac okah kac kapla loal, ac fain soko ah orakelik nu in acn sac nufon.
10Các núi bị bóng nó che phủ, Và các nhành nó giống như cây hương nam của Đức Chúa Trời.
10Lulin fain soko ah luliya inging ah, Ac lah kac uh luliya sak cedar lulap.
11Các nhành nó gie ra đến biển, Và chồi nó lan đến sông.
11Lah kac ah lahelik som sun Meoa Mediterranean, Oayapa fahla nwe ke sun Infacl Euphrates.
12Vì cớ sao Chúa phá hàng rào nó, Để cho các kẻ đi qua lảy lặt nó?
12Efu ku kom kunausya kalkal ma oan raunela? Oru mwet nukewa su fahsr aliki elos kinis fahko kac.
13Heo rừng cắn phá nó, Và các thú đồng ăn nó.
13Pig inima elos longya Ac kosro lemnak elos kang.
14Đức Chúa Trời vạn quân ôi! xin hãy trở lại, Từ trên trời hãy ngó xuống, đoái xem và thăm viếng cây nho nầy,
14Sifilpa forma nu sesr, O God Kulana! Ngeti inkusrao me nu facsr, Fahsru ac molela mwet lom.
15Là tượt nho mà tay hữu Chúa đã trồng, Và là chồi mà Chúa đã chọn cho mình.
15Fahsru ac molela fain grape soko su kom yukwiya inge; Fain fusr soko su kapak arulana fokoko.
16Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt: Vì cớ sự quở trách của mặt Chúa, chúng nó phải hư mất.
16Mwet lokoalok lasr elos pakiya ac furreak, Liyalos ke kasrkusrak lom, ac kunauselosla.
17Nguyện tay Chúa phù hộ người của tay hữu Chúa, Tức là con người mà Chúa đã chọn cho mình:
17Sruokya ac karingin mwet su kom sulela inge, Mutunfacl se su kom oru in arulana ku.
18Rồi chúng tôi sẽ không lìa khỏi Chúa nữa. Xin hãy làm cho chúng tôi được sống lại, thì chúng tôi sẽ cầu khẩn danh Chúa.
18Kut ac fah tia sifil forla liki kom; Karinganang moul lasr, ac kut ac fah kaksakin kom.
19Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, xin hãy đem chúng tôi lại, Làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
19Folokinkutme, O LEUM GOD Kulana! Akkalemye pakoten lom nu sesr, ac kut tufah moulla.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.