Thi 44
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Hỡi Đức Chúa Trời, lỗ tai chúng tôi có nghe, Tổ phụ chúng tôi đã thuật lại Công việc Chúa đã làm trong đời họ, Buổi ngày xưa.
1E KE Akua, ua lohe makou me ko makou mau pepeiao, Ua hai mai ko makou mau makua ia makou, I na hana au i hana'i i ko lakou mau la, i na wa kahiko.
2Chúa dùng tay mình đuổi các dân tộc ra, song lại tài bồi tổ phụ chúng tôi; Chúa làm khổ cho các dân; nhưng lại làm cho tổ phụ chúng tôi lan ra.
2Kipaku aku la oe i na lahuikanaka me kou lima, a hookomo mai ia lakou la; Hoopilikia iho la oe i na kanaka a kiola aku la:
3Vì họ chẳng nhờ thanh gươm mình mà được xứ, Cũng chẳng nhờ cánh tay mình mà được cứu; Bèn nhờ tay hữu Chúa, cánh tay Chúa, và sự sáng mặt Chúa, Vì Chúa làm ơn cho họ.
3No ka mea, aole me ka lakou pahikaua iho i loaa ai ia lakou ka aina; Aole hoi no ko lakou lima ponoi i hoola iho ia lakou iho: Aka, o kou peahi akau, a me kou lima, a me ka malamalama o kou maka; No ka mea, ua lokomaikai mai oe ia lakou.
4Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là vua tôi; Cầu Chúa ban lịnh giải cứu Gia-cốp.
4O oe no ko'u Alii, e ke Akua; E kauoha mai i ka hoola ana ia Iakoba.
5Nhờ Chúa, chúng tôi sẽ xô đổ cừu địch chúng tôi; Nhân danh Chúa, chúng tôi giày đạp những kẻ dấy nghịch cùng chúng tôi.
5Ma ou la e pahu aku ai makou i ko makou poe enemi: Ma kou inoa e hehi iho ai makou i ka poe ku e iluna ia makou.
6Vì tôi chẳng nhờ cậy cung tôi, Thanh gươm tôi cũng sẽ chẳng cứu tôi đâu;
6No ka mea, aole ma kuu kakaka e hilinai aku ai au: Aole hoi e hoola mai ka'u pahikaua ia'u.
7Nhưng Chúa đã cứu chúng tôi khỏi cừu địch chúng tôi, Làm bỉ mặt những kẻ ghen ghét chúng tôi.
7Aka, nau no makou i hoopakele i ko makou poe enemi, A ua hoohoka oe i ka poe i inaina mai ia makou.
8Hằng ngày chúng tôi đã khoe mình về Đức Chúa Trời, Lại sẽ cảm tạ danh Chúa đến đời đời.
8Iloko o ke Akua e kaena ai makou a po ka la, A e hoomaikai mau loa aku i kou inoa. Sila.
9Song nay Chúa đã từ bỏ chúng tôi, làm cho chúng tôi bị nhuốc nhơ, Chúa chẳng còn đi ra cùng đạo binh chúng tôi nữa.
9Aka, ua haalele ae nei oe a ua hoohilahila ia makou; Aole hoi oe i hele pu me ko makou poe kaua.
10Chúa khiến chúng tôi lui lại trước mặt cừu địch, Và kẻ ghét chúng tôi cướp lấy của cho mình.
10A ua hoohuli oe ia makou i hope mai ka enemi mai; A o ka poe hoowahawaha ia makou, ua hao mai lakou no lakou iho.
11Chúa đã phó chúng tôi khác nào chiên bị định làm đồ ăn, Và đã làm tan lạc chúng tôi trong các nước.
11Ua haawi oe ia makou me he mau hipa la e lilo i ai; Ua hoopuehu hoi ia makou iwaena o na lahuikanaka.
12Chúa đã bán dân sự Chúa không giá chi, Và đánh giá chúng nó chẳng cao.
12Ua kuai hoolilo aku oe i kou poe kanaka no ka mea ole, Aole hoi i hoomahuahua ma ka uku no lakou.
13Chúa làm chúng tôi thành vật ô nhục cho kẻ lân cận chúng tôi, Làm đồ nhạo báng và một sự chê cười cho những kẻ ở xung quanh.
13Ua waiho oe ia makou he mea e hoinoia iwaena o ko makou poe hoanoho, He mea e hoowahawaha ai a e henehene ai no ka poe e hoopuni ana ia makou.
14Chúa làm chúng tôi nên tục ngữ giữa các nước, Trong các dân, ai thấy chúng tôi bèn lắc đầu.
14Ua hoolilo oe ia makou i huaolelo ino, A i luli poo ana iwaena o na lahuikanaka.
15Cả ngày sự sỉ nhục ở trước mặt tôi, Sự hổ ngươi bao phủ mặt tôi,
15E mau ana ko'u hoinoia imua o ko'u maka; A ua uhi mai ka hilahila o ko'u maka ia'u:
16Tại vì tiếng kẻ sỉ nhục mắng chưởi, Và vì cớ kẻ thù nghịch và kẻ báo thù.
16No ka leo o ka mea i hailiili a i hoino wale mai; No ka enemi hoi a me ka mea hoopai.
17Mọi điều ấy đã xảy đến cho chúng tôi; song chúng tôi nào quên Chúa. Cũng không bội nghịch giao ước của Chúa.
17Ua pau ia mea i ke kau mai maluna o makou, Aole hoi makou i hoopoina ia oe; Aole hoi i hoopunipuni makou ma kou berita.
18Lòng chúng tôi không thối lại, Bước chúng tôi cũng không trở khỏi lối Chúa.
18Aole i hoohuliia ko makou naau, Aole hoi i kapae ae ko makou mau kapuwai mai kou aoao ae;
19Dầu vậy, Chúa đã bẻ nát chúng tôi trong chỗ chó rừng, Bao phủ chúng tôi bằng bóng sự chết.
19Ua hanapepe loa oe ia makou ma kahi nahesa; A ua hoouhi mai oe ia makou me ka malu o ka make.
20Nếu chúng tôi có quên danh Đức Chúa Trời chúng tôi, Hoặc giơ tay mình hướng về một thần lạ,
20Ina i hoopoina makou i ka inoa o ko makou Akua, Ina i kikoo aku ko makou mau lima i kahi akua wahahee;
21Đức Chúa Trời há sẽ chẳng hỏi tra sao? Vì Ngài biết thấu sự bí mật của lòng.
21Aole anei i imi ke Akua ia mea? No ka mea, ua ike oia i na mea huna o ka naau.
22Thật vì Chúa mà hằng ngày chúng tôi bị giết, Chúng tôi bị kể như con chiên dành cho lò cạo.
22Oiaio, nou makou i pepehiia'i a po ka la; Ua manaoia makou me he mau hipa la e hoomakeia.
23Hỡi Chúa, hãy tỉnh thức! Nhân sao Chúa ngủ? Hãy chỗi dậy, chớ từ bỏ chúng tôi luôn luôn.
23E ala'e, o ke aha kou mea e hiamoe ai, e ka Haku? E ku mai hoi iluna, mai haalele mai ia makou a mau loa.
24Cớ sao Chúa giấu mặt đi, Quên nỗi hoạn nạn và sự hà hiếp chúng tôi?
24No ke aha la i huna ai oe i kou maka? A i hoopoina hoi i ko makou popilikia, a me ko makou hooluhihewaia?
25Vì linh hồn chúng tôi bị phục dưới bụi tro; Thân thể chúng tôi dính vào đất.
25No ka mea, ua kulou iho ko makou uhane i ka lepo; Ua pili ko makou opu i ka honua.
26Xin Chúa hãy chỗi dậy mà giúp đỡ chúng tôi, Hãy vì sự nhân từ Chúa mà chuộc chúng tôi.
26E ku mai oe e kokua no makou, A e hoola ia makou no kou aloha.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.